Friedrich Nietzsche

Buổi hoàng hôn của những thần tượng
hay Làm cách nào triết lí với cây búa (3)
Nguyễn Hữu Hiệu dịch và giới thiệu 
Những kẻ muốn “cải thiện” nhân loại 

1. 
Người ta biết điều tôi đòi hỏi nơi những triết gia: họ phải đặt mình bên kia thiện ác, – họ phải đặt ảo tưởng về phán đoán luân lí bên dưới họ. Sự đòi hỏi này là kết quả của một cuộc khảo sát mà tôi phát biểu lần thứ nhất: tôi đi tới chỗ kết luận rằng: không hề có những sự kiện luân lí. Phán đoán luân lí đồng ý với phán đoán tôn giáo trong sự tin tưởng vào những thực tại không có. Luân lí chỉ là một sự diễn giải một số những hiện tượng nào đó, nhưng là một sự diễn giải sai lầm. Phán đoán luân lí, hệt như phán đoán tôn giáo, thuộc về một bình diện ngu dốt nơi ý niệm về thực tại, sự phân biệt giữa thực và mộng tưởng chưa có: đến nỗi rằng, trên một bình diện tương tự, “chân lí” chỉ biểu thị những sự vật mà ngày nay chúng ta gọi là “tưởng tượng”. Đó là lí do tại sao phán đoán luân lí không bao giờ được coi là đứng đắn cả: như thế bao giờ nó cũng chỉ chứa đựng cái vô nghĩa. Nhưng, như một lí thuyết về kí hiệu, nó có một giá trị vô cùng quí báu: nó phát hiện, ít nhất cho những người hiểu biết, những thực tại quí giá nhất của những nền văn hóa và những thế giới bên trong chưa hiểu biết đủ để tự “hiểu” mình. Luân lí chỉ là ngôn ngữ của những dấu hiệu, một triệu chứng học, người ta phải biết trước nó chỉ cái gì để có thể rút lợi ích từ đó. 

2. 
Đây là thí dụ thứ nhất, hoàn toàn có tính cách tạm thời. Bất cứ thời nào người ta cũng muốn “cải thiện” con người cả: chính cái đó, trước hết, được gọi là luân lí. Nhưng dưới cùng một danh từ có thể ẩn dấu nhiều khuynh hướng khác biệt nhau nhất. Sự thuần hoá con vật người cũng như sự nuôi nấng một loại người nào đó đều có thể gọi là sự “cải thiện” được cả: chỉ có những danh từ thuộc về động vật học mới chỉ đúng những thực tại, – nhưng đó là những thực tại mà “kẻ cải thiện”, những giáo sĩ, quả thực, không biết gì cả, – không muốn biết gì cả… Gọi là “cải thiện” sự thuần hoá của một con vật, đối với lỗ tai của chúng ta nó hầu như một lời đùa cợt. Ai biết được điều xảy ra trong những chuồng thú, nhưng tôi không tin con vật được “cải thiện” ở đấy. Người ta làm yếu nó đi, người ta làm nó trở nên bớt nguy hiểm, bởi cảm thức suy nhược tinh thần của sự sợ hãi, bởi đau đớn, bởi sỉ nhục, bởi đói khát, người ta khiến nó thành con vật ốm đau bệnh hoạn – Chẳng khác gì con người thuần thục mà những giáo sĩ đã “cải thiện”. Trong những năm đầu thời Trung Cổ, khi Giáo Hội trước hết là một chuồng thú, khắp nơi người ta tổ chức những cuộc săn những loại thú “tóc vàng” đẹp đẽ nhất [1] – người ta “cải thiện” những dân Nhật Nhĩ Man quí phái chẳng hạn. Nhưng sau đó một kẻ dòng Nhật Nhĩ Man trông ra sao khi đã được “cải thiện” và đưa vào tu viện? Nó có vẻ như một bức hí hoạ của con người, một sự sa sẩy: người ta đã làm nó thành một kẻ “phạm tội”, nó bị nhốt trong lồng, người ta đã nhốt nó trong những khái niệm khủng khiếp… nó nằm đó, đau ốm, khốn khổ, lòng đầy hờn oán đối với chính mình; đầy thù hận đối với những bản năng hướng về đời sống, đầy nghi ngờ tất cả những gì còn khoẻ mạnh và sung sướng. Tóm lại, nó là một “tín đồ Kitô giáo”… Nói theo danh từ sinh lí học: trong trận đấu với mãnh thú, làm nó bệnh hoạn có thể là cách duy nhất làm nó yếu đi. Đó là điều Giáo Hội đã hiểu: Giáo Hội đã làm hư hỏng con người, Giáo Hội đã làm nó suy yếu đi – nhưng Giáo Hội lớn tiếng tuyên bố đã “cải thiện” con người… 

3. 
Chúng ta hãy xét một trường hợp khác của cái tự nhận là luân lí, trường hợp nuôi dưỡng một chủng loại đặc biệt nào đó. Thí dụ hùng vĩ nhất được cung hiến bởi luân lí Ấn Độ, được tôn giáo chuẩn nhận, là “Luật Manu”. Ở đây người ta đặt ra vấn đề phải nuôi không dưới bốn giai cấp cùng một lúc. Một giai cấp tăng lữ, một giai cấp chiến sĩ, một giai cấp thương gia và làm ruộng, và cuối cùng một giai cấp tôi tớ, giai cấp Sudra. Hiển nhiên ở đây chúng không có ở giữa đám người dậy thú nữa: một loại người một trăm lần dịu dàng và biết lẽ phải là điều kiện tiên quyết để đi tới chỗ quan niệm chương trình nuôi dưỡng như vậy. Người ta thở một hơi dài tự do khi ra khỏi bầu không khí Kitô giáo, bầu không khí của bệnh viện và của ngục tù, vào trong một thế giới lành mạnh hơn, cao ráo hơn vàrộng rãi hơn? Tân Ước nghèo nàn xiết bao khi so với Manu và nó nặng mùi xiết bao! – Nhưng chính sự tổ chức này cũng cần phải khủng khiếp, – lần này không phải với dã thú mà với phản đề của nó với con người không được nuôi dưỡng, con người tạp nhạp, giai cấp Tchândâla [2] . Và lại một lần nữa nó không có cách gì làm yếu và vô hại hơn là cách làm cho nó bệnh hoạn – đó là cuộc tranh đấu với “đại đa số”. Có lẽ không có gì xúc phạm tình cảm của chúng ta cho bằng những biện pháp phòng ngừa của luân lí Ấn Độ. Sắc lệnh thứ ba chẳng hạn (Avadhna – sastra I) sắc lệnh về “rau cỏ nhơ bẩn” phán quyết rằng thực phẩm duy nhất dành cho giai cấp Tchândâla là hành và tỏi, nhân vì Thánh Kinh cấm cho họ mễ cốc hay trái cây có hạt hoặc nước hay lửa. Cũng sắc lệnh đó phán quyết rằng nước mà họ cần dùng không được lấy từ sông hay suối hoặc ao hồ, mà chỉ được lấy từ đầm lầy và những vũng nước chân thú vật. Họ còn không được phép giặt giũ quần áo và tắm rửa bởi vì nước họ được ban cho vì nhân đạo chỉ được dùng với mục đích duy nhất là giải khát. Sau cùng, những phụ nhữ Sudra không được phép giúp đỡ những phụ nhữ Tchândâla khi sinh đẻ, và những người phụ nữ sau này cũng không được phép giúp đỡ lẫn nhau… – Kết quả của những qui tắc vệ sinh này thấy rõ ngay: bệnh dịch chết người, bệnh phong tình ghê khiếp và như hậu quả của nó, một lần nữa “luật của lưỡi dao”, ban lệnh cắt bao bì qui đầu của những đứa bé trai và cắt bỏ labia minora [3] của những đứa bé gái. – Chính Manu nói: “Giai cấp Tchândâla là kết quả của ngoại tình, loạn luân và tội ác” (- đó là hậu quả thiết yếu của ý tưởng nuôi dưỡng). Quần áo chúng chỉ là những giẻ rách lấy từ những xác chết, chén bát là những bình, hũ bể, đồ trang sức là sắt gỉ, và ma quỉ là đối tượng thờ phượng của chúng; chúng phải đi lang thang hết nơi này tới nơi khác, không được nghỉ ngơi. Chúng không được viết từ trái sang phải và viết bằng tay phải; sự sử dụng tay phải và viết từ trái sang phải dành cho những người đức hạnh, cho những người thuộc chủng tộc cao quí. 

4. 
Những qui tắc này khá rõ ràng: qua chúng, ta thấy nhân tính của dòng Aryan, hoàn toàn sơ khai, chúng ta thấy ý tưởng “huyết thống tinh tuý” là sự ngược lại của một ý tưởng vô hại. Trái lại, nó trở nên rõ rệt trong dân tộc nào sự thù hận, sự thù hận giai cấp Tchândâla đối với “nhân tính” này đã được bất tử hoá, nơi nó đã trở thành thần thánh… Từ quan điểm này, Phúc Âm là những tài liệu thượng hạng; Sách của Enoch còn hơn thế nữa. – Kitô giáo nẩy sinh từ gốc rễ Do Thái, chỉ có thể hiểu được như sản phẩm của mảnh đất, trình bầy sự phản động chống lại luân lí nuôi dưỡng, dòng giống, đặc ân – đó là tôn giáo – chống lại Aryan đệ nhất: Kitô giáo, là sự đảo hoán mọi giá trị Aryan, sự chiến thắng của những giá trị Tchândâla, Phúc Âm giảng cho dân nghèo và hạ tiện, sự nổi loạn tập thể của tất cả những kẻ bị chà đạp, những kẻ bần cùng, xấu hổ, bạc phước chống lại “dòng giống”, – sự trả thù vĩnh viễn của giai cấp Tchâdâla trở thành tôn giáo của tình yêu… 

5. 
Luân lí của sự nuôi dưỡng và luân lí của sự thuần hoá vô cùng giá trị bởi những phương tiện chúng dùng để đạt tới cứu cánh, chúng ta có thể thiết định như qui luật thứ nhất của chúng ta rằng đểlàm ra luân lí, người ta phải có ý muốn vô điều kiện cái nghịch lại. Đó là vấn đề lớn lao, vấn đề kì quáimà tôi đeo đuổi từ lâu: tâm lý: của “những kẻ muốn cái thiện” nhân loại. Một sự kiện nhỏ và khá khiêm tốn, sự kiện tự nhận là pia fraus [4] , đã mở cho tôi lối vào đầu tiên vấn đề này: pia fraus, di sản của tất cả những triết gia và giáo sĩ đã “cải thiện” nhân loại. Cả Manu lẫn Platon, cả Khổng Tử lẫn những giáo phụ Do Thái và Kitô giáo, chẳng người nào nghi ngờ quyền nói láo của họ. Họ cũng chẳng nghi ngờ nhiều quyền khác nữa của họ… Nếu muốn diễn tả thành định thức, người ta có thể nói: tất cả mọi phương tiện từ xưa tới nay được dùng nhằm mục đích làm cho con người đạo đức đều hoàn toàn vô luân. – 

*

Những cuộc ngao du của con người phi thời 

1. 
Những bất khả của tôi. – Sénéque: hay kẻ đấu bò của đức hạnh. – Rousseau: hay sự trở về thiên nhiên in impuris naturalibus [5] . – Schiller: hay kẻ gióng Trống khua Chiêng – Đạo đức ở Sackingan [6].- Dante: hay con lang làm thơ trong mộ. – Kant: hay sự lễ độ giả dối như đặc tính trí tuệ. – Victor Hugo: hay đèn pha của đại dương phi lí. – Listz: hay thiên tài âm nhạc – bên đàn bà. – George Sand:hay lactea uberta [7] nói theo tiếng Đức: die Milchkuh mit “schonem Stil” [8] . – Michelet: hay sự hăng say đã cởi áo khoác ngoài. – Carlyle: hay chủ trương bi quan như sự tiêu hoá trì trệ. – John Stuard Mill:hay sự minh bạch tổn thương. – Les frères de Goncourt [9] : hay hai tên Ajax chiến đấu chống lại Homène. Nhạc của Offenbach. Zola: hay “thú phóng uế”. 

2. 
RENAN. – Thần học, hay là sự đồi bại của lí trí bởi “tội tổ tông” (Cơ đốc giáo). Bằng chứng: Renan, kẻ bất cứ khi nào phải liều lĩnh đưa ra một tiếng phải hay không về một vấn đề thông thường, đều sai trật với một sự tuân thủ theo đúng kỉ luật một e dè thận trọng kiểu thầy dòng. Chẳng hạn ông ta muốn nối kết chặt chẽ la science và la noblesse [10] lại với nhau; nhưng khoa học thuộc về chế độ dân chủ, điều đó quá hiển nhiên. Ông ta muốn trình bày không phải không có tham vọng, một sự quí phái tinh thần; nhưng đồng thời ông quì trước lí thuyết đối nghịch, évangile des humbles [11] và không phải chỉ quì gối mà thôi… Làm gì bằng tất cả những tinh thần tự do, tân tiến, tất cả sự diễu cợt, tất cả sự thay đổi địa vị một cách mềm mỏng, uyển chuyển đó, khi tận đáy lòng, người ta vẫn là tín đồ Cơ Đốc, Kitô giáo và ngay cả linh mục nữa? Renan có tài tìm tòi những sáng kiến để hấp dẫn, giống như một giáo sĩ dòng Gia Tô hội hay một linh mục chuyên nghe xưng tội; tinh thần ông không thiếu nụ cười nhân hậu giả dối rộng mở của thầy dòng – giống như tất cả những linh mục, ông ta chỉ trở nên nguy hiểm khi ông ta yêu. Không ai có thể sánh được với ông trong cách yêu quí chết người. Cái tinh thần này của Renan, một tinh thần bạc nhược, là một tai ương thêm vào cho nước Pháp bệnh hoạn đáng thương, ý chí suy vi. – 

3. 
SAINTE-BEUVE. – Không có chút đàn ông tính nào trong ông ta; ông ta đầy lòng thù hận nhỏ nhen đối với tất cả những tinh thần hùng tráng. Ông ta lang thang đây đó tinh tế, tò mò, chán chường tọc mạch – một người đàn bà tại căn đế, với những sự trả thù của đàn bà và nhục cảm đàn bà. Là một tâm lí gia, ông ta là thiên tài médisance [12] ; khả năng khai thác chuyện dèm xiểm bất tận, không ai biết cách pha trộn độc dược với lời tán dương giỏi hơn. Những bản năng hạ đẳng của ông ta đều hạ lưu và bà con gần gũi với tính resentiment [13] ; của Rousseau: do đó ông ta là một kẻ theo phong trào lãng mạn, – bởi dưới mọi romantisme [14] đều có bản năng trả thù của Rousseau chầu chực, rình mò. Ông ta là một nhà cách mạng, nhưng dằn nén quá kĩ vì sợ hãi. Không độc lập trước tất cả những gì có sức mạnh (dư luận, hàn lâm viện, triều đình, ngay cả Port royal). Bực tức chống lại tất cả những gì vĩ đại trong người và sự vật, chống lại tất cả những gì tự tin nơi mình. Đủ là một thi sĩ và nửa – đàn bà để cảm thức sức mạnh của những gì vĩ đại; không ngừng co rúm như con sâu trong tục ngữ bởi ông ta luôn luôn cảm thấy bị chà đạp dưới gót chân. Là một nhà phê bình, ông ta không có tiêu chuẩn phê phán, không tiêu chuẩn hướng dẫn và không xương sống. Mặt dầu ông ta có miệng lưỡi của một libertin [15] quốc tế nhưng lại thếu can đảm nhìn nhận libertinage của mình. Là một nhà sử học không có triết lí, không có sức mạnh của viễn quan triết lí, – chính vì lí do đó ông khước từ trách nhiệm phê phán trong tất cả những vấn đề quan yếu, bằng cách dùng “khách quan tính” như một cái mặt nạ. Tuy nhiên ông ta có một thái độ khác hẳn trước những sự vật mà trong đó năng khiếu tinh tế và lão luyện là tối cao pháp viện: ở đó ông ta có cản đảm và thích thú là chính mình, – ở đó ông là bậc thầy. – Về một vài phương diện, đó là một kiểu mẫu đầu tiên của Baudelaire. 

4. 
IMITATIO CHRIST [16] là một trong những cuốn sách tôi không thể cầm mà không cảm thấy gớm tay[17] : nó toát ra một mùi người nữ vĩnh cửu [18] mà người ta phải là dân Pháp – hay là một tín đồ của Wagner mới chịu nổi… Ông thánh này có một lối nói về tình yêu khiến cho ngay cả những người đàn bà Paris cũng phải hiếu kì. – Người ta nói với tôi rằng A. Comte, tu sĩ dòng Gia Tô hội quỉ quyệt nhất, kẻ muốn dẫn dắt dân Pháp tới La Mã qua sự ngoắt ngoéo của khoa học, hứng khởi từ cuốn sách này. Tôi tin điều đó: “Tôn giáo của trái tim”… 

5. 
G. ELIOT. – Họ đã giải thoát khỏi Thượng Đế Kitô giáo và bây giờ họ cảm thấy phải bám lấy luân lí Kitô giáo chặt chẽ hơn bao giờ hết. Đó là cách lí luận kiểu Ăng lê, chúng ta không muốn nhạo báng những thứ luân lí – đàn bà à la Eliot [19] . Ở Anh, bất cứ một sự thoát li thần học nhỏ nhoi nào, người ta cũng phải hồi phục lại danh dự bằng cách khủng khiếp nhất là trở thành một kẻ cuồng tín luân lí. Đó là cách giải tội ở xứ này. – Với chúng ta lại khác hẳn. Nếu người ta khước từ đức tin Kitô giáo là người ta đồng thời tự bãi bỏ quyền hạn đối với luân lí Kitô. Bởi vì luân lí này không tự nó minh nhiên: điều này cần soi sáng lại luôn luôn mặc dầu đầu óc nông cạn của dân Anh. Kitô giáo là một hệ thống, một ý tưởng thống nhất và một quan niệm toàn bộ về sự vật. Nếu người ta phá bỏ một khái niệm căn bản chủ yếu, niềm tin vào Thượng Đế, là người ta phá tan cả một toàn thể: người ta chẳng có một chút cốt tuỷ nào trong tay nữa hết. Kitô giáo giả thiết rằng con người không biết gì cả, không thể biết cái gì tốt, cái gì xấu đối với mình: hắn tin tưởng vào Thượng Đế, đấng duy nhất hiểu biết. Luân lí Kitô giáo là một huấn giới; nguồn gốc của nó là siêu việt; nó ở trên mọi phê bình, mọi quyền phê bình, nó chỉ chứa đựng chân lí nếu Thượng Đế là chân lí – nó đứng vững hay sụp đổ với niềm tin vào Thượng Đế. – Nếu người Anh thực sự tin rằng tự họ hiểu biết bằng “trực giác”, thế nào là thiện, thế nào là ác, nếu do đó họ nghĩ rằng họ không cần Thượng Đế như một đảm bảo cho luân lí nữa, thì đó chỉ là hậu quả của quyền tối thượng của sự thẩm định Kitô giáo và là một bằng chứng của sức mạnh và chiều sâu của quyền tối thượng này: do đó nguồn gốc luân lí Anh Cát Lợi đã bị bỏ quên, do đó người ta không còn nhận thấy tính chất tuỳ thuộc lớn lao của quyền tồn tại của nó nữa. Đối với người Ăng Lê, luân lí không còn là một vấn đề nữa… 

6. 
GEORGE SAND. – Tôi đã đọc những bức thư đầu tiên của tập Lettres d’un voyageur; như tất cả những gì bắt nguồn từ Rousseau, những bức thư đó sai lầm, giả tạo, khoa trương, khoác lác. Tôi không thể chịu nổi thứ bút pháp vàng úa màu giấy dán tường; cũng như tham vọng khơi dậy những tình cảm khoan hồng tầm thường. Điều tồi tệ nhất là sự làm dáng đàn bà với những kiểu cách đàn ông, với những cung cách của hạng thanh niên vô giáo dục. – Bà ta phải lạnh lùng xiết bao với tất cả những điều đó, thứ nghệ sĩ không chịu nổi: bà ta tự lên dây như một cái đồng hồ – và viết… Lạnh lùng như Victor Hugo, như Balzac, như tất cả những kẻ theo phong trào lãng mạn khi họ bắt đầu ngồi vào bàn viết! Và với xiết bao tự mãn bà ta muốn nằm dài ra đó, con bò cái viết lách khủng khiếp có một chút Đức, trong ý nghĩa xấu xa nhất của danh từ, như Rousseau, bậc thầy của bà, kẻ chỉ có thể chịu đựng được khi thị hiếu Pháp đi đến chỗ suy đồi! Nhưng Renan kính phục bà ta… 

7. 
Luân lí cho những tâm lí gia. – Không đem tâm lí học bán rong! Không bao giờ quan sát chỉ để quan sát mà thôi! Điều đó tạo ra một viễn tượng sai lầm, một cái nhìn xiên lệch, một cái gì bị cưỡng bách và thổi phồng. Cảm nghiệm một điều gì muốn cảm nghiệm – không đem lại kết quả tốt đẹp. Trong khi cảm nghiệm, người ta không được phép nhìn trở lại mình, nếu không mọi cái nhìn đều trở thành “con mắt xấu”. Một tâm lí gia bẩm sinh tự nhiên chống lại việc nhìn chỉ để mà nhìn: một hoạ sĩ bẩm sinh cũng vậy. Hắn không làm việc “phỏng theo thiên nhiên”. – hắn giao cho bản năng, cho phòng tối của hắn, sàng sẩy và gạn lọc “thiên nhiên”, “trường hợp”, “kinh nghiệm sống”… Hắn chỉ ý thức vềphổ quát tính, kết luận, kết quả: hắn không biết diễn dịch độc đoán từ trường hợp đặc thù. – Kết quả sẽ ra sao nếu người ta làm ngược lại? Đem tâm lí học đi bán rong, bán sỉ và bán lẻ như nhữngromanciers Ba Lê, chẳng hạn? Như thế là người ta rình chờ thực tại, mỗi buổi chiều mang về nhà một dúm tò mò… Nhưng hãy nhìn hậu quả – một đống lộn xộn, hay hơn nữa một thứ tạp luận, và trong mọi trường hợp một cái gì thêm thắt, nhốn nháo, loè loẹt. Nhóm Goncourts đã đạt đến cực đỉnh tồi tệ của loại này: họ không bao giờ đặt ba câu cạnh nhau mà không làm nhức mắt, mắt nhà tâm lí học– Thiên nhiên, thẩm định theo quan điểm nghệ thuật, không phải là kiểu mẫu. Nó phóng đại, méo mó, để lại những lỗ hổng. Thiên nhiên là sự tình cờ. Nghiên cứu “theo thiên nhiên” đối với tôi dường như là một dấu hiệu xấu: nó phản lại sự phục tòng, yếu đuối! định mệnh thuyết, – sự qui luỵ trước những petits faits [20] này không xứng đáng với một nghệ sĩ hoàn toàn. Nhìn hiện thể của sự vật – điều đó thuộc về một loại đầu óc khác hẳn, những đầu óc phi-nghệ thuật, cụ thể. Người ta phải biết mình là ai… 

8. 
Về tâm lí học của nghệ sĩ. – Để có nghệ thuật, để có bất cứ một hành động hay một sự chiêm ngắm nghệ thuật nào, một điều kiện sinh lí chuẩn bị này không thể thiếu: sự ngây ngất. Trước hết sự ngây ngất phải nâng cao xúc cảm tính của toàn thể bộ máy: không nghệ thuật nào phát sinh trước khi điều đó xảy ra. Tất cả mọi trạng thái ngây ngất đó, dù nguồn gốc khác nhau thế nào chăng nữa, đều có khả năng tạo ra nghệ thuật này: trên tất cả là sự ngây ngất của kích động dục tình, hình thức xuất thần cổ điển và nguyên thuỷ nhất. Cũng vậy sự ngây ngất đi kèm theo tất cả những ước vọng lớn lao, tất cả mọi cảm xúc mãnh liệt; sự ngây ngất của yến tiệc, của tranh đấu, của hành vi dũng cảm, của chiến thắng, của giao động cùng cực; sự ngây ngất của tàn bạo; sự ngây ngất của phá huỷ; sự ngây ngất dưới một vài ảnh hưởng khí tượng nào đó, chẳng hạn sự ngây ngất của mùa xuân; hay dưới ảnh hưởng của thuốc mê; cuối cùng sự ngây ngất của ý chí chất chứa và căng phồng. – Yếu tính của sự ngây ngất là cảm thức về sự tràn đầy và gia tăng nghị lực. Bị kích thích bởi cảm thức này, người ta buông thả cho sự vật, bắt buộc sự vật tiếp nhận mình, cưỡng bức sự vật, – người ta gọi quá trình này là lí tưởng hoá. Ở đây chúng ta hãy đoạn trừ một thành kiến: sự lí tưởng hoá không hệ tại sự diễn dịch hay giảm trừ cái nhỏ bé và tuỳ phụ như người ta vẫn tin tưởng. Trái lại, việc vạch rõ một cách khủng khiếp những nét chính yếu, để đến nỗi những nét khác biến mất chính là cái quyết định tất cả. 

9. 
Trong trạng thái này người ta làm giầu tất cả mọi sự bằng chính sự phong phú của mình: điều hắn nhìn, điều hắn muốn, người ta đều thấy nó căng phồng, chặt chẽ, mạnh mẽ, chất chứa sức mạnh. Con người trong trạng thái này biến đổi sự vật cho đến khi chúng phản chiếu sức mạnh của hắn – cho đến khi chúng trở thành những phản ảnh của sự hoàn hảo của hắn. Sự cưỡng bách, biến đổi thành cái hoàn hảo này – là nghệ thuật. Tất cả đối với con người này đều là nguồn hân hoan trào vọt phát xuất tự trong mình; trong nghệ thuật, con người hân hưởng chính con người mình như sự hoàn hảo. Có thể tưởng tượng một trạng thái nghịch lại, một trạng thái phi nghệ thuật đặc thù của bản năng – một cách thế làm nghèo nàn, giảm trừ và làm hao mòn xanh xao tất cả mọi sự. Và quả thật lịch sử đầy rẫy những nghệ sĩ phi nghệ thuật thuộc loại này, những kẻ thiếu sinh lực cần chiếm đoạt tất cả mọi sự vật họ nhìn thấy, tiêu thụ chúng, làm chúng trở nên gầy mòn kiệt quệ. Đó là trường hợp một tín đồ Kitô giáo chính cống, trường hợp Pascal chẳng hạn; một tín đồ Kitô giáo đồng thời là một nghệ sĩ, điều đó không thể có… Đừng người nào trẻ con đến nỗi nêu Raphael hay bất cứ một tín đồ Kitô giáo theo tương đồng liệu pháp [21] thế kỉ thứ mười chín nào để chống lại phán quyết của tôi. Raphael nói ừ [22] , Raphael làm tích cực, do đó, Raphael không phải là một tín đồ Kitô giáo. 

10. 
Đâu là ý nghĩa của những ý niệm trái nghịch nhau Apollon và Dionysos, cả hai đều được coi như những hình thức ngây ngất mà tôi đã đưa vào thẩm mỹ học [23] – Sự ngây ngất apollinien trước hết kích thích nhãn quan, khiến nhãn quan thủ đắc sức mạnh thị lực. Hoạ sĩ, điêu khắc gia, thi sĩ anh hùng ca đều là những linh tưởng gia par excellence. Trái lại, trong trạng thái dionysien, tất cả hệ thống cảm xúc đều bị kích thích và nâng cao cường độ: đến nỗi nó phóng ra tất cả mọi phương tiện diễn tả bằng cách khu trục tất cả mọi sức mạnh bắt chước, mô phỏng, biến đổi, chuyển hoá, tất cả mọi loại hoạt hoạ theo và nghệ thuật bắt chước. Sự hoá thân dễ dàng vẫn là cái chính yếu, khôngthể phản động lại (- tương tự như một vài loại bệnh loạn trí, có thể bắt chước điệu bộ đóng bất cứvai trò nào). Con người dionysien không thể không hiểu bất cứ sự dẫn khởi nào, hắn thủ đắc bản năng thấu cảm và tiên đoán cao độ, giống như hắn thủ đắc đến cao độ nghệ thuật thông tri với người khác vậy. Hắn biết thấu suốt bất cứ vỏ bao bọc nào, đi vào bất cứ cảm xúc nào; hắn thường xuyên biến đổi. – Âm nhạc, như chúng ta hiểu ngày nay, là một sự kích thích và giảm trừ cảm xúc, nhưng dầu vậy đó cũng chỉ là tàn tích của một thế giới của biểu thị tràn đầy hơn, một cặn bã của nghệ thuật riêng biệt, người ta phải bất động hoá một số giác quan, trước hết là những cơ năng, ít ra là một cách tương đối: bởi mọi tiết tấu đều hãy còn nói với những bắp thịt của chúng ta tới một giới hạn nào đó): đến nỗi con người không còn có thể nào bắt chước hay diễn tả bằng thân xác điều hắn cảm thấy được nữa. Tuy nhiên, đó chính là trạng thái dionysien thông thường, ít ra đó là trạng thái uyên nguyên của nó. Âm nhạc là sự cá biệt hoá thành tựu một cách chậm rãi, bằng cách nhờ vào những khả năng gần gũi với nó. 

11. 
Diễn viên, người diễn hí kịch, vũ viên, nhạc sĩ, thi sĩ trữ tình, rất gần nhau trong bản năng và cốt yếu là một, chỉ sau này mới cá biệt hoá và tách rời nhau ra – đi tới chỗ đối thoại với nhau nữa. Thi sĩ trữ tình đoàn kết lâu nhất với nhạc sĩ, diễn viên với vũ viên. Kiến trúc sư không diễn tả trạng thái dionysien cũng chẳng diễn tả trạng thái apollinien: ở đây là tác động vĩ đại của ý chí, ý chí dịch hải di sơn, sự say sưa của ý chí mạnh mẽ đòi hỏi sự diễn tả nghệ thuật. Những người mãnh liệt nhất luôn luôn gây hứng khởi đến cho kiến trúc sư: kiến trúc sư luôn luôn chịu ảnh hưởng của sức mạnh. Lòng kiêu hãnh, sự chiến thắng trên trọng lượng và trọng lực, ý chí hùng dũng phải được biểu hiện rõ rệt trong một toà lâu đài; kiến trúc là một thứ nghệ thuật hùng biện của sức mạnh bằng hình thể, khi thì hùng hồn thuyết phục hay mơn trớn, khi thì cộc lốc ra lệnh. Cảm thức mãnh liệt nhất về sức mạnh và chắc chắn tìm cách diễn tả trong grand style. Sức mạnh không cần chứng tỏ; khinh thị chiều đãi; không đối đáp hời hợt; không cảm thấy nhân chứng cận kề chung quanh; sống bằng những sự đối kháng người ta dựng lên chống lại mình; an nhiên trong chính mình, tuân theo vận mệnh, một luật lệ giữa những luật lệ: đó là điều nói về mình theo thể cách grand style cao nhã. 

12. 
Tôi đã đọc về cuộc đời Thomas Carlyle, đúng là trò hề không ý thức và không chủ tâm, sự diễn dịch anh hùng tính – có tính cách luân lí về chứng khó tiêu. – Carlyle, một người có ngôn ngữ và cử chỉ hùng mạnh, một biện luận gia bởi nhu cầu, thường xuyên bị dao động bởi khát vọng một đức tin mãnh liệt và cảm thức về sự bất lực không thể đạt đức tin ấy – (về phương diện này, đó là một người theo phong trào lãng mạn điển hình!) Khát vọng về một đức tin mãnh liệt không phải là bằng chứng của một đức tin mãnh liệt mà hoàn toàn ngược lại. Một khi có đức tin đó, hẳn người ta có thể trả giá sự hoang phí lòng hoài nghi xa hoa: người ta đủ chắc chắn, đủ vững vàng, đủ cố định cho lòng hoài nghi đó. Carlyle làm đinh tai nhức óc một cái gì trong ông với bài hát hùng mạnh ca ngợi những người có đức tin mãnh liệt của ông và sự điên cuồng chống lại những người ít rồ dại hơn của ông: ông cần ồn ào. Một sự thiếu thành thật say đắm thường xuyên với mình – đó là cái độc đáo của ông, chính vì thế mà ông đã và sẽ vẫn còn hấp dẫn. Dĩ nhiên ở Anh, người ta ngưỡng mộ ông chính bởi lòng chân thật của ông… À, đó là một cái gì đặc tính chất Ăng lê; và nếu người ta coi dân Anh là dân tộc giả dối quá đỗi quá chừng, thì điều đó còn hợp lí nữa chứ không phải chỉ dễ hiểu mà thôi. Đáo cùng, Carlyle là một kẻ vô thần Anh Cát Lợi muốn được tôn vinh mình không phải là một kẻ vô thần. 

13. 
Emeson. – Ông giác ngộ hơn, rộng rãi hơn, đa tài hơn và tế nhị hơn Carlyle rất nhiều, và trên hết, ông hạnh phúc hơn. Ông là một người tự nhiên sống bằng cao lương mĩ vị và gạt ra những thứ khó tiêu trong sự vật. So với Carlyle, đó là một người có khiếu thẩm mĩ. Carlyle, người rất quí mến ông, tuy vậy, nói về ông rằng: “Ông không cho chúng ta đủ ăn”: điều đó có thể đúng nhưng không thiệt hại gì cho Emerson. – Emerson có sự thanh thản tinh thần tốt lành làm nản lòng tất cả những kẻ nghiêm trang; ông không có ý niệm nào về sự kiện ông đã già đến mực nào và ông còn có thể trẻ lại đến mực nào, – ông có thể nói về mình như Lope de Vega: “Yo me sucedo a mi mismo” [24] . Tinh thần ông bao giờ cũng tìm thấy lí do để hạnh phúc và biết ơn nữa; đôi khi ông gần đi tới sự thanh thản siêu việt của con người cao nhã, từ một cuộc hẹn hò yêu đương tamquam re bene gesta trở về, lòng đầy biết ơn và nói: “Ut desint vires, tamen est laudanda volupta” [25] . 

14. 
Chống-Darwin. – Về nguyên lí lừng danh “đấu tranh để sinh tồn” đối với tôi dường như chỉ có tính cách khẳng định hơn là chứng minh. Nó xảy ra, nhưng như một ngoại lệ; bộ mặt tổng quát của cuộc sống không phải là cùng khổ, đói khát mà đúng hơn là giàu có, xa hoa hay ngay cả hoang phí nữa – nơi nào có tranh đấu là tranh đấu để dành sức mạnh… Không được lầm lộn Malthus [26] với thiên nhiên. – Tuy nhiên, giả dụ rằng có sự tranh đấu này đi nữa chăng – và quả thực, nó xẩy ra thật – kết quả của nó, tiếc thay, lại ngược lại với trường phái Darwin mong mỏi, và ngược lại với điều mà người ta có lẽ có thể mong ước cùng với họ: nghĩa là sự thất bại của những kẻ mạnh, những kẻ thiên bẩm, những ngoại lệ may mắn. Những chủng loại không tăng trưởng ngày một hoàn hảo hơn: những kẻ yếu càng ngày càng thắng lướt kẻ mạnh – bởi chúng thuộc về số đông và bởi chúng khôn khéohơn… Darwin đã bỏ quên tinh thần (cái đặc biệt Anh Cát Lợi!), những kẻ yếu có nhiều tinh thần hơn. Người ta phải cần tinh thần để đi đến chỗ thủ đắc tinh thần, – người ta mất tinh thần khi không cần đến nó nữa. Kẻ có sức mạnh từ bỏ tinh thần của mình (- “hãy để nó ra đi! người ta nghĩ vậy ngày nay ở Đức – Reich sẽ ở lại cùng chúng ta…) [27] Người ta sẽ thấy rằng tôi dùng chữ tinh thần để ám chỉ sự thận trọng, kiên nhẫn, xảo quyệt, yếm trá, tự chủ mạnh mẽ và tất cả những gì là mô phỏng bắt chước (đặc tính cuối cùng bao gồm phần lớn cái được gọi là đức hạnh). 

15. 
Quỉ kế của những nhà tâm lí học. – Người này biết rõ bản chất con người: hắn nghiên cứu con người để làm gì? Hắn muốn thủ một chút lợi nhỏ hay một mối lợi lớn nữa trên họ, – hắn là một chính khách!… Người này nữa cũng là một kẻ hiểu tâm lí con người [28] : thế mà bạn lại nói rằng hắn không cầu cạnh điều gì cho hắn cả, rằng hắn sẽ là hoàn toàn “vô ngã”. Hãy nhìn gần hơn! Có thể hắn muốn một lợi ích tồi tệ xấu xa hơn nữa: hắn muốn cảm thấy hắn cao cả hơn con người, có quyền nhìn xuống họ, không hoà lẫn với họ. Mẫu “vô ngã” này là một sự miệt thị con người [29] , trong khi mẫu người thứ nhất nhân loại hơn, mặc dầu bề ngoài thế nào mặc lòng. Ít ra hắn cũng tự đặt mình trên cùng bình diện, hắn tự đặt mình ở giữa mọi người… 

16. 
Sự khéo léo tâm lí của người Đức đối với tôi dường như khả nghi bởi một loạt những trường hợp mà lòng khiêm tốn ngăn không cho tôi nêu ra. Tuy nhiên có một trường hợp đã cho tôi một cơ hội tốt để lập thuyết của tôi: tôi thù hận dân Đức vì họ đã lầm lẫn về Kant và “Triết lí cửa hậu” của ông, như tôi gọi nó, – bởi đó không phải là mẫu thanh liêm tri thức. – Có điều nữa mà tôi không thể nghe lọt tai là tiếng “và” khả ố: dân Đức nói “Goethe  Schiller”,- tôi sợ họ nói “Schiller  Goethe”. Họ có hiểuSchiller này đã không? – còn có những tiếng “và” tệ hơn nữa; chính tai tôi đã nghe thấy, quả thực chỉ trong đám giáo sư đại học mà thôi: Schopenhauer  Hartmann”… 

17. 
Những con người tâm linh thẳm sâu nhất, khi nhận họ là những kẻ can đảm nhất, đã cảm nghiệm những bi kịch đau đớn nhất: nhưng cũng chính vì lí do đó mà họ tôn vinh cuộc đời, bởi nó chống lại họ bằng sự đối kháng mãnh liệt nhất. 

18. 
Nói về “ý thức”. – Ngày nay không có gì hiếm hoi hơn sự giả đạo đức đích thực. Tôi rất hoài nghi rằng khí hậu ôn hoà của nền văn hoá chúng ta không thích hợp cho cái cây này. Sự giả đạo đức thuộc về những thời đại của đức tin mạnh mẽ: trong đó, ngay cả khi bị bó buộc phải phô trương một đức tin khác, người ta vẫn không chối bỏ đức tin riêng của mình; hay, thông thường hơn, người ta thủ đắc một đức tin thứ hai – tuy nhiên, người ta vẫn lương thiện trong bất cứ trường hợp nào. Hiển nhiên, ngày nay người ta có thể có nhiều đức tin hơn ngày xưa: có thể, nghĩa là được phép, nghĩa là vô hại. Từ đó nẩy ra lòng rộng lượng đối với chính bản thân. Sự rộng lượng đối với chính bản thân cho phép có nhiều đức tin; và những đức tin này hoà thuận với nhau, – và, như tất cả mọi người ngày nay, những đức tin này hết sức tránh thoả hiệp với nhau. Ngày nay người ta thoả hiệp với mình bằng cách nào? Bằng cách nhất trí. Bằng cách đi theo một đường thẳng. Bằng cách không hàm hồ, nghĩa là không cho phép năm cách diễn dịch đối kháng nhau một lúc. Bằng cách chân thật… Tôi e rằng con người hiện đại chỉ quá lười biếng đối với một số tật xấu đang bị tiêu diệt. Mọi tội lỗi đều tuỳ thuộc ý chí mạnh và có lẽ không có tội lỗi nếu không có sức mạnh của ý chí, – đều sa đoạ thành đức hạnh trong khí hậu ẩm ướt của chúng ta. Một vài kẻ giả đạo đức hiếm hoi mà tôi biết chỉ bắt chước sự giả đạo đức thôi: như hầu hết một phần mười con người ngày nay, họ là những kẻ đóng kịch. 

19. 
Đẹp và xấu. – Không có gì tương đối hay bị giới hạn hơn cảm thức về cái đẹp của chúng ta. Bất cứ kẻ nào muốn tách rời cảm thức này khỏi lạc thú con người tìm thấy nơi con người đều lập tức bị chới với ngay. Cái “đẹp tự nội” chỉ là một danh từ, chứ chưa được là một khái niệm nữa. Trong cái đẹp, con người tự đặt mình như tiêu chuẩn của sự hoàn hảo; trong những trường hợp chọn lọc, nó tự ngưỡng mộ mình trong đó. Một chủng loại không thể nào làm khác hơn là tự khẳng định mình theo cách đó. Bản năng hạ đẳng nhất của nó, bản năng tự bảo tồn và trương rộng mình hãy còn tỏ lộ trong những sự thăng hoa này. Con người tin rằng thế giới tự nó chứa đầy vẻ đẹp – nó quên rằng chính nó là nguyên nhân của tất cả những vẻ đẹp này. Nguyên mình nó đã cho thế giới một vẻ đẹp, than ôi! rất phàm phu, quá đỗi phàm phu!… Tóm lại con người đã phản chiếu trong sự vật, nó cho là đẹp tất cả những gì phản ảnh lại cái hình ảnh của chính nó: phán đoán cái đẹp là sự tự mãn chủng loại của nó… Tuy nhiên, một chút nghi ngờ có thể lọt vào tai kẻ hoài nghi: thế giới được tô điểm phải chăng bởi tại chính con người coi nó là đẹp? Con người đã nhân loại hoá thế giới: tất cả chỉ có vậy. Nhưng không có gì, tuyệt đối không có gì đảm bảo cho chúng ta rằng con người chính là khuôn mẫu của cái đẹp. Ai biết được trông hắn giống cái gì trong cặp mắt của một phán quan thẩm mĩ siêu đẳng hơn? Có lẽ hắn là một kẻ hơi hợm mình? Có lẽ hơi tức cười? Có lẽ hơi độc đoán?… “Ôi thần Dionysos, tại sao lại beo tai em như vậy?” Ariane một hôm hỏi người tình triết gia của nàng trong một trong những đối thoại nổi tiếng về Naxos như vậy. “Tôi thấy tai em hơi tức cười, Ariane: tại sao nó lại không dài hơn một chút nữa nhỉ?”. 

20. 
Không có gì đẹp, chỉ có con người là đẹp: tất cả mọi thẩm mĩ học đều dựa trên sự ngây thơ này, đó là chân lí thứ nhất. Chúng ta hãy thêm ngay chân lí thứ hai: không có gì xấu ngoài con người sa đoạ – lãnh vực của những phán xét thẩm mĩ đã được qui định bằng hai chân lí đó. – Xét về phương diện sinh lí, bất cứ cái gì xấu đều làm con người suy nhược và buồn rầu. Nó nhắc nhở con người tới sự suy đồi, nguy hiểm, bất lực; con người hao tốn sức lực khi đối diện với nó. Người ta có thể đo được hiệu quả của cái xấu bằng lực kế. Tóm lại, bất cứ khi nào con người cảm thấy yếu đuối thì đó là dấu hiệu chứng tỏ nó cảm thấy một cái gì “xấu” đang cận kề. Cảm thức về sức mạnh, ý chí hùng dũng, lòng can đảm, sự kiêu hãnh – tất cả xuống thấp với cái xấu xa, lên cao với cái đẹp… Trong cả hai trường hợp, chúng ta đều có thể rút ra kết luận này: những tiền đề của chúng được tích chứa dồi dào trong bản năng. Cái xấu được coi như một dấu hiệu và một triệu chứng của suy đồi: cái gì nhắc nhở chúng ta, dù một cách xa xôi, tới sự suy đồi đều gây ra trong chúng ta phán đoán “xấu”. Bất cứ một dấu hiệu bải hoải, nặng nề, già nua, mệt mỏi nào, bất cứ sự câu thúc nào, như sự co quắp, tê liệt, nhất là mùi vị, mầu sắc, hình thể của băng hoại, tan rã, dù chỉ giảm xuống đến độ chỉ còn là một biểu tượng đi chăng nữa – tất cả đều gây ra cùng một phản ứng, phán đoán “xấu”. Một sự thù ghét nổi lên tại đây: nhưng con người ghét cái gì? Không còn hồ nghi gì nữa: sự suy đồi của chủng loại nó. Ở đây, sự thù ghét của nó bắt nguồn từ bản năng chủng loại sâu thẳm nhất của nó, trong sự thù ghét này có sự kinh sợ, thận trọng, chiều sâu, sự thấu suốt – đó chính là sự thù ghét thâm sâu nhất. Chính bởi lẽ đó mà nghệ thuật sâu xa… 

21. 
Schopenhauer. – Schopenhauer, người Đức đáng kể cuối cùng (- người tượng trưng cho một biến cố Âu Châu, như Goethe, như Hegel, như Henrich Heine, chứ không phải chỉ như một biến cố địa phương, “quốc gia” mà thôi), là một trường hợp thượng đẳng đối với một tâm lí gia: tôi muốn nói như một toan tính khôn ngoan thiên tài viện dẫn những lời khẩn nguyện đối nghịch, nhằm hỗ trợ cho một cuộc hạ giá cuộc đời một cách toàn triệt và theo quan điểm hư vô chủ nghĩa: sự tự khẳng định vĩ đại của “ý chí sống” những hình thức phong phú của cuộc đời. Ông đã lần lượt diễn dịch nghệ thuật, lòng anh hùng, thiên tài, vẻ đẹp, lòng đại từ bi, trí thức, ý chí tìm chân lí, bi kịch, như những hậu quả của sự “phủ nhận” hay nhu cầu phủ nhận của “ý chí” – vụ làm bạc giả tâm lí lớn nhất lịch sử, trừ Kitô giáo. Nhìn gần ông chỉ là kẻ thừa kế của lối diễn dịch Kitô giáo: có điều ông biết cách chấp thuận cái mà Kitô giáo đã khước từ, những sự kiện văn hoá vĩ đại của nhân loại, và chấp thuận chúng theo một quan điểm Kitô, nghĩa là hư vô chủ nghĩa (- nghĩa là ưng chuẩn chúng như những con đường “cứu chuộc”, như những kích thích của nhu cầu “cứu chuộc…”) 

22. 
Tôi lấy một trường hợp cá biệt. Schopenhauer nói về cái đẹp với một sự hăng say sầu thảm. – Tại sao vậy? Bởi ông nhìn thấy trong đó một cây cầu trên đó người ta có thể đi xa hay trên đó người ta khao khát đi xa… Đối với ông vẻ đẹp là sự giải thoát khỏi “ý chí” trong giây lát – nó lôi cuốn về phía giải thoát vĩnh viễn… Đặc biệt ông ca tụng nó như đấng cứu chuộc khỏi “trung tâm điểm của ý chí”, khỏi nhục tình – trong cái đẹp ông thấy sự phủ nhận xung lực hướng về sự sinh đẻ… Thật là một vị thánh kì dị! Thế nào cũng có kẻ nói ngược lại ông và tôi e rằng đó là thiên nhiên. Vẻ đẹp có trong những âm thanh, mầu sắc, hương thơm, những chuyển động nhijp nhàng của thiên nhiên hướng về cứu cánh nào? Cái gì khiến vẻ đẹp đó hiển lộ? – May mắn thay có một triết gia cũng nói ngược lại ông. Đấng thần linh Platon (chính Schopenhauer gọi như vậy) uy tín ngất trời đã chủ trương một thuyết nghịch lại: một vẻ đẹp khêu gợi, xúi dục sự sinh đẻ – đó chính là hiệu quả đặc biệt của nó, từ cõi miền nhục cảm thấp nhất tới cõi tâm linh cao siêu nhất. 

23. 
Platon đi xa hơn nữa. Ông nói với sự ngây thơ mà phải là người Hy Lạp chứ không thể là người “Kitô giáo” mới có thể có được, rằng sẽ không thể có mảy may triết lí Platon nào nếu không có những trai tráng xinh đẹp như vậy ở thành phố Nhã Điển: chính khi nhìn thấy họ mà tâm hồn triết gia bay bổng vào cõi mộng tình ngây ngất và không thể an nghỉ cho đến khi nó reo rắc hạt mầm của mọi sự cao siêu vào lòng mảnh đất quá đẹp tươi như thế. Thêm một bậc thánh kì dị nữa – người ta không thể tin tai mình, dù giả thử rằng người ta tin Platon. Ít ra người ta thấy rằng ở Nhã Điển họ triết lí một cách khác hẳn, nhất là trong quần chúng. Không có gì ít tính chất Hy Lạp hơn là ngồi trong xó dệt một cái lưới nhện khái niệm, amor intellectualis dei [30] theo kiểu Spinoza. Triết lí theo kiểu Platon đúng ra phải được định nghĩa như một cuộc tranh biện dâm dật, như một sự khai triển và đào sâu của môn thể dục cổ điển và những điều kiện tiên quyết của nó… Cái gì cuối cùng nẩy sinh ra từ cái dâm triết lí của Platon? Một hình thức nghệ thuật mới của cổ Hy Lạp: biện chứng pháp. Tôi nhắc thêm, chống lại Schopenhauer và để tôn vinh Platon: tất cả mọi nền văn hoá và văn chương cao siêu của nước Pháp cổ điển đều nảy nở trên mảnh đất dục tình. Ở đây người ta có thể tìm thấy khắp chốn sự hào hoa, nhục cảm, sự tranh đua thư hùng, “đàn bà”, – người ta sẽ không bao giờ tìm kiếm vô ích… 

21. 
L’art pour l’art [31] .- Sự chống đối cứu cánh trong nghệ thuật bao giờ cũng là sự chống đối khuynh hướng đạo đức hoá [32] trong nghệ thuật, chống đối sự lệ thuộc của nghệ thuật vào đạo đức, L’art pour l’art có nghĩa là: “Thây kệ luân lí” – nhưng chính sự thù nghịch này tố cáo rằng thành kiến luân lí hãy còn giữ phần ưu thắng. Khi người ta khai trừ khỏi nghệ thuật mục đích giảng dạy luân lí và cải thiện con người thì không nhất thiết nghệ thuật phải vô mục đích và không có một ý nghĩa nào, tóm lại, l’art pour l’art – một con rắn cắn đuôi chính nó. “Không có một mục đích nào cả tốt hơn là có một mục đích đạo đức!”, đam mê thuần tuý nói như vậy. Một tâm lí gia hỏi ngược lại: tất cả mọi thứ nghệ thuật dùng để làm gì? nó không ca tụng sao? không tán dương sao? không lựa chọn sao? không tỏ lòng yêu quí sao? khi làm thế nó sẽ làm mạnh hay làm yếu đi một số sự thẩm định giá trị… Đó là một cái gì thứ yếu? một sự tình cờ? một cái gì bản năng của nghệ sĩ không tham dự vào chút nào? hay nó không phải là điều kiện tiên quyết cho phép người nghệ sĩ là nghệ sĩ?… Bản năng sâu xa nhất của nghệ sĩ có hướng về nghệ thuật hay đúng hơn về ý nghĩa của nghệ thuật, về cuộc đời, về lòng khao khát cuộc đời? – Nghệ thuật là sự kích thích mãnh liệt hướng về cuộc đời: tại sao người ta có thể coi nó như vô mục đích, như l’art pour l’art? – Vẫn còn lại một câu hỏi phải giải đáp: nghệ thuật còn đưa ra ánh sáng nhiều cái xấu xí, cay đắng, hồ nghi trong cuộc đời – chẳng phải vì thế mà nó khiến cho cuộc đời trở nên nhọc nhằn sao? – Và quả thực có những triết gia đem gán cho nghệ thuật ý nghĩa đó: “giải thoát khỏi ý chí” đó là tất cả đối tượng của nghệ thuật theo lời dạy của Schopenhauer, “khiến người ta nhẫn nhục”, đó là lợi ích lớn lao của bi kịch mà ông đề cao. – Nhưng điều này – như tôi đã cho thấy từ trước – là quan điểm và “ác nhãn” của người bi quan. Người nghệ sĩ bi thảm truyền đạt điều gì tới những kẻ khác? Hắn không diễn tả thái độ vô uý trước tất cả những gì khủng khiếp và hồ nghi sao? – chính thái độ này là một điều đáng mơ ước vô cùng: kẻ nào hiểu đều cung kính tôn vinh nó trên tất cả mọi sự. Người nghệ sĩ truyền đạt điều này, phải truyền đạt điều này nếu hắn là nghệ sĩ, một thiên tài trong nghệ thuật cảm thông. Lòng dũng cảm và bình tĩnh trước kẻ thù hùng mạnh, trước bất hạnh tày trời, trước một vấn đề đầy kinh hoàng – chính thái độ chiến thắng này người nghệ sĩ lựa chọn, ca ngợi. Trước bi kịch, tính hiếu chiến trong tâm hồn chúng ta cử hành những cuộc tế lễ linh đình; kẻ nào tìm kiếm đau khổ, con người anh hùng, tán dương cuộc đời mình bằng bi kịch, – chỉ riêng đối với kẻ đó thôi, người nghệ sĩ bi tráng mới dâng tặng chén tàn bạo ngọt ngào tuyệt vời này. – 

25. 
Chịu đựng mọi người, mở rộng cửa với tất cả tâm hồn – đó là lòng quảng đại, nhưng chỉ là lòng quảng đại phóng khoáng mà thôi, người ta biết có những tâm hồn hiếu khách cao sang trướng rủ rèm buông: họ để trống những căn phòng tốt nhất. Tại sao vậy? – Bởi vì họ chờ đợi những quí khách mà họ không phải “chịu đựng”… 

26. 
Chúng ta không tôn trọng mình lắm khi chúng ta thổ lộ mình. Những kinh nghiệm riêng tư đích thực của chúng ta không có nhiều lời. Dù những kinh nghiệm ấy có muốn thổ lộ mình đi chăng nữa cũng không thể được. Ấy là bởi tại chúng ta thiếu lời. Chúng ta đã ở trên bất cứ điều gì mà chúng ta có thể diễn tả bằng ngôn từ. Trong tất cả mọi câu chuyện đều có một chút khinh bỉ. Dường như ngôn ngữ chỉ được tạo ra cho những cái tầm thường, trung bình, có thể thông tri được. Bằng ngôn ngữ, người nói đã tầm thường hoá mình đi ngay khi nói.- Trích luân lí dành cho những kẻ câm điếc và những triết gia khác [33] . – 

27. 
“Bức tranh này đẹp mê hồn!”… [34] người đàn bà chuộng văn chương, bất mãn, bứt rứt, trong tâm hồn và ruột gan, trống trải, tò mò lắng nghe từng phút, một cách đau đớn, cái mệnh lệnh từ cơ thể sâu kín của nàng thì thầm: “aut liberi aut libri [35] : người đàn bà văn chương học hành đủ để nghe tiếng nói của thiên nhiên, dù cho khi nó nói bằng tiếng Latin, tuy nhiên khá kiêu căng, rỗng tuếch, khá đần độn như ngan ngỗng để bí mật nói thì thầm với mình bằng tiếng Pháp: “je me verrai, je me lirai, je m’extasierai et me dirai: Possible, que j’aie eut tant d’esprit?” [36] … 

28. 
Những kẻ “vô ngã” nói. – “Đối với chúng ta, không có gì dễ hơn là trở nên khôn ngoan, kiên nhẫn, cao cả. Chúng ta xem xét tỉ mỉ với dầu mỡ bao dung và thiện cảm, chúng ta đẩy công lí đến chỗ phi lí, chúng ta tha thứ cho tất cả. Chính vì thế thỉnh thoảng chúng ta phải nuôi dưỡng một chút đam mê nhỏ, một chút tật xấu nhục tình. Điều đó có thể cực nhọc đối với chúng ta; và khi quây quần thân mật chỉ có chúng ta thôi, có thể chúng ta sẽ cười dáng vẻ bề ngoài ta có vì lẽ đó. Nhưng để làm gì? chúng ta không còn cách nào khác hơn là để tự vượt qua chúng ta: đó là sự khổ hạnh của chúng ta, khổ hình của chúng ta… Trở nên vô ngã – đức hạnh của những kẻ “vô ngã”… 

29. 
Từ một cuộc thi tiến sĩ. – “Sứ mệnh của tất cả mọi nền giáo dục cao đẳng là gì?” – Là biến con người thành một cái máy. – “Bằng cách nào?” – Phải dạy con người buồn chán. – “Làm thế nào để đạt được điều đó?”- Bằng ý niệm bổn phận.- “Ai là gương mẫu của nó?” – Nhà ngữ học: hắn dạy cách nhá [37] . – “Ai là con người hoàn toàn?” – Công chức nhà nước. – “Triết học nào cho người công chức nhà nước công thức tốt nhất?” – Triết học của Kant: người công chức nhà nước với tư cách vật tự nội đặt trên người công chức nhà nước với tư cách hiện tượng. – 

30. 
Quyền ngu ngốc. – Người công nhân mệt mỏi, hơi thở chậm rãi, mắt nhìn dịu dàng, để sự vật tự do lưu chuyển: nhân vật điển hình này, mà ngày nay, trong Thời Đại của Lao Động (và của “Reich”! nữa -) người ta gặp trong mọi giai cấp xã hội đang đòi hỏi nghệ thuật, gồm cả sách vở và, trước hết, báo chí – nhất là vẻ đẹp của thiên nhiên Ý Đại Lợi chẳng hạn… Con người của buổi tối, vói “những bản năng man rợ ngủ say” [38] mà Faust nói, con người này cần dưỡng sức, tắm biển, trượt băng, Beyreuth [39] … Trong những thời đại như thời đại của chúng ta, nghệ thuật có quyền hoàn toàn điên khùng [40] như một thứ nghỉ hè của tinh thần, trí tuệ và cảm giác. Wagner hiểu điều đó. Sựđiên khùng hoàn toàn là liều thuốc bổ… 


[1]Nietzsche dùng chữ này đầu tiên trong “Phổ hệ luân lí”, chỉ những con người hùng mạnh cao quí như những anh hùng của Homère, những hải tặc Viking – Ghi chú của Dịch giả.
[2]Giai cấp hạ lưu ngoài lề xã hội – G.c.D.
[3]Môi nhỏ. – G.c.D.
[4]Sự xảo trá thành tín – G.c.D.
[5]Trong sự nhơ nhớp tự nhiên.
[6]Der Trompeter von Sackingan, tác phẩm nổi tiếng của Joseph Victor von Scheffel. – G.c.D.
[7]Sữa dồi dào
[8]Con bò sữa “đẹp mã”
[9]Anh em Goncourt
[10]Pháp văn trong nguyên bản: khoa học và quí phái. – G.c.D.
[11]Pháp văn trong nguyên bản: phúc âm của những kẻ bần cùng. – G.c.D.
[12]Pháp văn trong nguyên bản: xoi mói, dèm pha
[13]Pháp văn trong nguyên bản: lòng hờn oán, hiềm khích
[14]Pháp văn trong nguyên bản: phong trào hay chủ trương lãng mạn
[15]Pháp văn trong nguyên bản: kẻ (sự) phóng túng, vô kỉ luật, vô tôn giáo
[16]Gương Chúa Jesus, tác phẩm nổi tiếng của Thomas à Kempis (1379 – 1471)
[17]Nghĩa đen: mà không cảm thấy một sự đối kháng sinh lí (ohne einen physiologischen Widerstand).
[18]das Ewig-Weibliche, một trong những câu thơ cuối cùng trong tác phẩm Faust của Goethe (“Người nữ đời đời kéo chúng ta lên cao), đối tượng chế giễu của Nietzsche.
[19]Pháp văn trong nguyên bản: kiểu Eliot
[20]Pháp văn trong nguyên bản: sự kiện nhỏ nhặt
[21]Homospathische hay là phép lấy bệnh trị bệnh
[22]Nói ừ, sagen ja là thuật ngữ Nietzsche dùng để chỉ thái độ khẳng định tích cực đối với cuộc đời của kẻ chấp nhận cuộc đời với tất cả những gì kinh khủng, bi đát nhất của nó, một dionysien, tín đồ của Dionysos – kẻ khẳng định vĩ đại.
[23]Trong Sự khai sinh của bi kịch. – G.c.D.
[24]Tôi chính là kẻ kế vị tôi. – G.c.D.
[25]“Mặc dù thiếu sức mạnh, nhưng dục vọng thì thực đáng khen.”
[26]Kinh tế học gia người Anh (1766- 1834), chủ trương hạn chế nhân khẩu. – G.c.D.
[27]Nietzsche đổi lại câu cuối cùng bài Ein fester Burg của Lutther, đại ý: những gì thuộc về trần gian này hãy ra đi, ở lại những gì thuộc về Reich, nước thiên đàng. – G.c.D.
[28]Menschenkenner
[29]Nguyên văn: một kẻ miệt thị con người – Menschen-Verächter – G.c.D.
[30]“Tình yêu Thượng đế bằng tinh thần”. – G.c.D.
[31]Pháp văn trong nguyên bản: “Nghệ thuật vị nghệ thuật”.
[32]Tức chủ trương “văn dĩ tải đạo”. – G.c.D.
[33]So sánh Lão Tử: “Đạo khả Đạo, phi thường Đạo. Danh khả Danh, phi thường Danh”, “Ngôn giả bất tri, tri giả bất ngôn” và Héraclite: “Kẻ im lặng bao giờ cũng đẹp.”
[34]Dòng mở đầu nhạc khúc: “Tiếng sáo mê hồn” của Mozart.
[35]Trẻ con hay sách vở. – G.c.D.
[36]Tôi sẽ thấy chính tôi, ta sẽ đọc tôi, tôi sẽ xuất thần và tôi sẽ nói: Có thể tôi có nhiều tinh thần đến thế kia ư?- Galiani: thư gửi bà Épinay ngày 18 tháng 9 năm 1709. Nguyên văn không có dấu phết sau chữ Possible – G.c.D.
[37]Nguyên tác: ochsen: làm việc siêng năng vất vả, còn có nghĩa là học hành chuyên cần, học gạo. – G.c.D.
[38]Lấy trong câu thơ của Goethe: “Entschlafen sind nun wilde Triebe” (Faust, Hồi I, cảnh 3.)
[39]Nơi Wagner ở, thỉnh thoảng có tổ chức hoà nhạc.
[40]Parsifal, nhân vật chính trong vở nhạc kịch cuối cùng của Wagner được mô tả như một kẻ trong trắng, thuần khiết, điên khùng (reine Tor), Nietzsche cho câu truyện Parsifal là phi lí và dùng chữreine Torheit (thuần tuý điên) theo nghĩa hoàn toàn điên. – G.c.D. 

Nguồn: Hồng Hà in lần thứ nhất tại Sài Gòn năm 1971. Bản điện tử do talawas thực hiện. Bản đăng trên talawas với sự đồng ý của dịch giả.