Sư Ông và Nguyễn Huệ Chi trùng phùng tại chùa Bồ Đề, Gia Lâm ngày 21-1-2005
Sư Ông và Nguyễn Huệ Chi trùng phùng tại chùa Bồ Đề, Gia Lâm ngày 21-1-2005

Năm 1994, lần đầu có dịp đặt chân đến nước Pháp, Thiền sư Thích Nhất Hạnh được tin gọi điện mời tôi xuống vãng cảnh làng Mai – cũng gọi là làng Hồng – ở vùng Dordongne cách Paris về phía Nam chừng 600 km, nhờ đó tôi có dịp cùng tăng sinh làng Mai tu tập Thiền học theo phép tu Tiếp Hiện của Sư ông hai phen, trong khoảng 15 ngày. Bấy giờ chỉ mới có xóm Thượng và xóm Hạ thôi nhưng trong tâm trí tôi, đây đã là một không gian mênh mông và thật sự tĩnh lặng, trong đó con người mặc sức phơi bày diện mục chân thực của mình và có đủ mọi điều kiện thực hiện chánh niệm, chánh tư duy, để gạt bỏ đi bao nhiêu phiền muộn mà cuộc sống văn minh ồ ạt của thời buổi hôm nay luôn luôn úp chụp lên mình, làm cho ta lúc nào cũng cảm thấy ngột ngạt.

15 ngày tôi hình như đã được sống trở lại một thế giới trong quá vãng đâu từ xa lắm – cái thế giới Thiền vô cùng khoáng đạt của thơ ca sách vở đời Trần. Trước ngày chia tay, vào một buổi sáng, Thiền sinh bốn phương đủ Âu Phi, Mỹ, Á… họp mặt đông đảo tại Thiền viện xóm Thượng, tôi đã có bài thơ tặng làng Mai, cũng là tặng Sư Ông:

重 到 梅 鄊 禪 院 感 作

梅 鄊 上 下 有 林 泉

屋 結 森 差 蔭 樹 邊

黃 白 黑 深 同 向 佛

越 英 法 德 一 言 禪

師 行 徒 集 如 雲 霧

鍾 叩 飱 停 似了 緣

夜 冷 梅 堆 波 月 朗

瓊 林 復 活 在 西 天

Phiên âm:

TRÙNG ĐÁO MAI HƯƠNG THIỀN VIỆN CẢM TÁC

Mai hương thượng hạ hữu lâm tuyền,

Ốc kết sâm si ấm thụ biên.

Hoàng, bạch, hắc, thâm đồng hướng Phật,

Việt, Anh, Pháp, Đức nhất ngôn Thiền.

Sư hành đồ tập như vân vụ,

Chung khấu xan đình tự liễu duyên.

Dạ lãnh Mai đôi ba nguyệt lãng,

Quỳnh Lâm phục hoạt tại Tây thiên.

Dịch thơ:

TRỞ LẠI THIỀN VIỆN LÀNG MAI CẢM TÁC

Làng Hồng hai xóm, suối rừng vây,

Lều bạt nhấp nhô dưới bóng cây.

Tu Bụt: đen, vàng, nâu, trắng đủ,

Lời Thiền: Việt, Pháp, Đức, Anh đầy.

Trò theo thầy bước như mây nổi,

Chuông nhắc người ăn lắng phút giây.

Đêm lạnh vườn mai lay sóng nguyệt,

Quỳnh Lâm sống lại dưới trời Tây.

Làng Mai đêm 4 tháng 9 năm 1994

Kính tặng Tăng Thiền làng Mai trước ngày giã từ

Nguyễn Huệ Chi

阮 惠 之

Năm 2001 lần đầu tôi có dịp đặt chân tới nước Mỹ và ở luôn trong 9 tháng. Ngày 11-9, tại San Jose tôi được chứng kiến qua màn hình vụ khủng bố Tòa tháp Đôi ở New York, với hình ảnh lửa khói ngún lên rồi hai tòa tháp theo nhau đổ sụp, cả màn hình chỉ còn là lửa và những chấm đen bay tung mịt mù. Và rồi sau đó là tình cảm đau thương phẫn uất của các cộng đồng cư dân Hoa Kỳ, nhất là người da trắng mà tôi được tận mắt thấy họ bỏ cả ăn chơi mua sắm, tự động đi cắm những lá cờ Mỹ nhỏ xíu trước mọi ngôi nhà, đến tụ tập tại những địa điểm đã định để nghe từng hồi chuông đổ rền, người thì cúi đầu mặc niệm, người ôm nhau khóc như mưa như gió, tưởng chừng một nước Mỹ thanh bình, yên ổn đã mất đi. Nhưng tôi sửng sốt biết bao khi trên tờ New York Time đăng tin Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã có mặt chỉ ngay sau cái ngày khủng khiếp đó một tuần thôi – ông đến rất gần nơi hai tòa tháp đổ sụp ở New York để thuyết giảng về lẽ sống chánh niệm nhằm thức tỉnh lương tri người Mỹ, mong con dân nước Mỹ hãy nhìn sâu vào tâm thức của mình, đừng vội có những hành vi không tỉnh táo. Còn đáng ngạc nhiên hơn nữa là giữa không khí hờn căm đang sôi sục, những buổi thuyết giảng như thế lại lôi cuốn được hàng chục ngàn người Mỹ đến dự, đến nỗi một chiếc vé vào cửa cũng không còn.

Thật may mắn, đầu năm 2005, tôi có dịp gặp lại con người mình ngưỡng mộ trên chính đất nước của mình. Tôi lại có được niềm vui cùng bạn bè trong giới những người thầy dạy học đến nghe Sư Ông pháp thoại, và được bày tỏ một vài cảm tưởng về mấy lần gặp gỡ Sư Ông.

Giờ đây, nhe tin Sư Ông là người được xếp thứ tư trong số 100 người có ảnh hưởng tâm linh nhất trên thế giới, tôi không chút ngạc nhiên. Sư ông là người cả cuộc đời chỉ làm mỗi một thiên chức đem đến cho con người sự thanh thản trong tâm hồn, giải thoát con người khỏi những đớn đau do hệ lụy của đời sống vật chất hiện đại mang lại, giúp con người buông xả mọi ám ảnh bạo lực mà bất kỳ nơi đâu còn bất công thì vẫn còn có nó. Sư Ông là hiện thân của đức tin vào con người như một sinh thể có quyền tự thực hiện sự tự do và bình đẳng vốn là cái hạnh phúc lớn lao nhất mà Tạo hóa ban cho họ. Trong tầm vóc ấy, Sư Ông đúng là một biểu tượng đối lập với bạo quyền, với các thế lực toàn trị, nhưng đối lập bằng thái độ bất bạo động, bằng sức mạnh lan tỏa của chính lòng lành. Sự truyền bá lòng lành từ phương cách tu tập thảnh thơi nhàn nhã, “tiệm ngộ” xoắn quyện với “đốn ngộ”của Sư Ông, đã làm cho một phần thế giới khổ đau trở nên có hạnh phúc. Đó chính là phần thưởng không gì sánh được, là cơ duyên kỳ diệu mà cuộc đời này dành cho Sư Ông.

Nguyễn Huệ Chi

Nguyễn Huệ Chi, sinh ngày 14 tháng 7 năm 1938, là một giáo sư người Việt Nam, nhà nghiên cứu văn hóavăn học Việt Nam cổ, trung và cận đại, nguyên trưởng phòng Văn học Việt Nam cổ cận đại của Viện Văn học, nguyên chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện Văn học thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia (nay là ViệnKhoa học Xã hội Việt Nam), là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ 1984. Giáo sư Nguyễn Huệ Chi còn được biết đến với các bút danh: Phương TriHuệ ChiCánh HồngHy Tuệ. Năm 2009, cùng với nhà văn Phạm Toàn và Giáo sư Nguyễn Thế Hùng, ông khởi xướng trang mạng  xít Việt Nam

Nguyễn Huệ Chi là con trai của nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, giáo sư Nguyễn Đổng Chi và anh ruột nhà nghiên cứu mỹ thuật cổ, phó giáo sư Nguyễn Du Chi; người làng Ích Hậu, huyện Can Lộc nay là huyện Lộc Hà, tỉnh  Tĩnh. Ông nội ông là Nguyễn Hiệt Chi tham gia phong trào Duy Tân ở Bình Thuận, từng là đồng sáng lập Công ty Liên Thành và Trường Dục Thanh (Phan Thiết), nhiều năm sau về dạy Trường Quốc học Huế và Trường Quốc học Vinh. Thuở nhỏ, ông học tại Trường Phan Đình Phùng,  Tĩnh, và khi bước vào đời sinh viên, ông theo học khóa đầu tiên của Khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, tốt nghiệp vào năm 1959.[1][2]

Trong khoảng từ năm 1959 đến năm 1960 ông là biên tập viên Nhà xuất bản Lao động. Từ tháng 1 năm 1961, sau khi rời Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội một năm, ông chuyển về làm việc tại Viện Văn học. Tại đây, ông tốt nghiệp lớp Đại học Hán học do Viện Văn học tổ chức năm 1968 và năm 1972 (chuyển sang hệ 4 năm). Ông nhận học hàmphó giáo sư năm 1984 và giáo sư năm 1991.[2]

Trong quá trình làm việc ở Viện Văn học, ông lần lượt đảm nhiệm các cương vị: cán bộ nghiên cứu Phòng Văn học Việt Nam cổ cận đại, nghiên cứu viên chính, phó trưởng Phòng Văn học Việt Nam cổ cận đại (1976-1978), trưởng Phòng Văn học Việt Nam cổ cận đại (1978-2003), nghiên cứu viên cao cấp (từ 1991). Ngoài ra ông còn đảm nhiệm các chức vụ: Ủy viên Hội đồng Khoa học Viện Văn học (từ 1968), chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Văn học (1988-1996), Ủy viên Hội đồng Khoa học Xét Phong Học hàm Nhà nước Liên ngành Ngữ Văn (1990-1995).[2]

Năm 1994 ông được Hội Partage ở Pháp mời sang Pháp trình bày về văn hóa truyền thống của Việt Nam.[3] Tại đây ông có dịp gặp gỡ Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Trước đấy ông đã viết bài giới thiệu bộ sách Việt Nam Phật giáo Sử luận của Nguyễn Lang (bút danh của Thiền sư Thích Nhất Hạnh) và cho in lại bộ sách này đầu tiên ở Việt Nam vào năm 1992.[4]

Năm 2001, William Joiner Center thuộc Viện Đại học Massachusetts mời ông và Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến sangHoa Kỳ tham gia một chương trình nghiên cứu văn hóa Việt Nam ở hải ngoại.[3]

Nguyễn Huệ Chi được xem là người có kiến thức, có tầm suy nghĩ, song về quan điểm thường tỏ ra độc lập, không chịu lệ thuộc vào “khuôn khổ”. Nhiều bài báo của ông đăng trên mạng tuy nêu kiến giải học thuật, vẫn không tách hẳn cái nhìn phán xét thời sự ở một cự ly xa gần nào đấy, hoặc gửi gắm mục tiêu dân chủ hóa xã hội, tự do đa nguyên mà ông luôn tâm niệm[cần dẫn nguồn].

Năm 2009, cùng với nhà văn Phạm Toàn và Giáo sư Nguyễn Thế Hùng, ông khởi xướng trang mạng Bô xít Việt Nam, “tiếng nói phản biện nhiều mặt của người trí thức” về vấn đề khai thác quặng bô-xít (bauxite) và những vấn đề xã hội có liên quan ở Việt Nam.

Nguồn: Quảng Đức