Nghệ-Thuật Điêu-Khắc Phật Giáo Tự Thuở Bình Minh

Vietsciences-  Trần Thị Vĩnh-Tường & Nguyễn Đức Hiệp        

15/03/2011

Tiểu Lục Địa Ấn Độ 
Bộ tộc Sakya của Phật 
Phật là ai? 
Đế quốc Mauryan (321TCN–185 TCN): Vua Ashoka 
Vương quốc Satahavana (230TCN-220SCN): Phong cách Amaravati 
Đế quốc Bactria (256TCN-10SCN): Phong cách Indo-Greek 
Vua Demetrius 
Vua Menander 
Đế quốc Kushan (30-230SCN) 
Vua Kanishka 
Phong cách Gandharan 
Phong cách Mathura 
Đế quốc Gupta (320-550SCN) 
Pho tượng Sultanganj đi lạc 
Pho tượng Óc Eo 
Đền Thendayyuttha Hindu tại Saigon 

 Hơn hai ngàn năm trước, cuộc gặp gỡ ngoạn mục giữa châu Âu chinh phục và châu Á bí ẩn, lưu hương hoa trái đầu mùa đã làm nền tảng cho tôn giáo và nghệ thuật đến hàng ngàn năm sau.

Thời kỳ này kéo dài 1000 năm, từ thế kỷ thứ 4 TCN đến thế kỷ thứ 7 SCN (1), khi vó ngựa của Alexandre đại đế vượt sông Indus năm 326 TCN, cho tới khi tôn giáo Muslim cực thịnh. Hai nền văn minh Âu Á dựa vào nhau khai mở một bình minh rộn ràng đường nét Hy Lạp phương tây, Zoroastrianism/Hỏa giáo Ba Tư và Phật giáo phương đông, dựa trên nền tảng văn hoá Hindu bản địa. Pha trộn này, kho tàng vô tận cho những ai muốn ngược dòng thời gian tìm hiểu ngôn ngữ, kiến trúc, điêu khắc, văn hoá, tôn giáo…về một góc nhân loại, nơi cư dân làm nhà, nhảy múa, thờ phượng, suy nghĩ, yêu nhau, chia tay, tận diệt…

Điều rất lạ, tất cả những thế lực bên ngoài xâm chiếm mảnh đất Ấn độ, đều bỏ chinh bào cởi gươm đao, hòa chung với giòng văn hóa bản địa. Toán học có vẻ tương đối nơi đây: một cộng một không phải là hai. Hai giọt nước tan vào nhau, chỉ là một giọt. Riêng Đông Nam Á, từ Phù Nam, Chămpa, Chân Lạp, Lào, Cambodia, Srivijaya, Malaysia… cho chí Việt Nam, không nơi nào là không có văn minh Ấn Độ.

Trên con sóng bạc xô tới hàng ngàn bến bờ xa lạ, nền văn minh Ấn Độ khác hẳn nền văn minh La Mã và văn minh Trung Hoa, không bao giờ gây chiến, không chủ trương chiếm đất giết người. Tất cả nhờ vào bồ đề tâm của bốn hoàng đế Ashoka, Demetrius, Menander và Kanishka, những người tiên phong đẩy làn sóng Phật giáo biền biệt trôi tới bốn phương trời mười phương Bụt.

“Phật là ai” và “Hình ảnh Phật ban đầu” vẫn là câu hỏi bàn cãi dòng dã trong giới học giả. Có lẽ những bàn cãi này đáng được lưu tâm, vì mảnh đất bây giờ gọi là Việt Nam thời khai sinh cũng có cơ duyên đón chào Phật giáo. Trong lịch sử Việt Nam, hai triều đại Lý Trần rực rỡ đã từng vin vào Phật mà đứng dậy.

Tiểu Lục Địa Ấn Độ

Lịch sử Ấn Độ hết sức đa dạng trên một miền đất cực kỳ phức tạp. Tháng 8/1947, nhờ sự tranh đấu bền bỉ bất bạo động của Mahatma Gandhi, quốc gia mang tên Cộng Hoà Ấn Độ/Republic of India ra đời. Trước 1947, ám chỉ tiểu lục địa này, tiếng Persia/Ba Tư gọi là Hindustan, có nghĩa Miền Đất Của Người Hindus/Land of the Hindus (chữ -stan có nghĩa “đất của người”, ví dụ Ubezkistan, Kazakstan…) Trong bài xin tạm dùng chữ Ấn Độ, dù chưa có nước Ấn Độ vào thời đó.

“Biên giới chính trị” là điều không có ở Ấn Độ, suốt từ thời Sakya, Mauryan, Bactria, Kushans, Gupta… Ấn Độ vẫn chỉ là những mandala, gồm nhiều vương quốc/bộ lạc. Những thế lực này hiện diện cùng lúc hay kế tiếp nhau trong thời gian và không gian địa lý. Mỗi nơi là một thế giới riêng với thành phần sắc tộc, văn hoá và ngôn ngữ khác nhau. Các tiểu quốc đều có vua/rajah, khi thống nhất gọi là “vua của các vua/maharajah”. Triều đại cuối cùng là Moghul từ Afghanistan mang theo đạo Hồi thống trị nhiều đời cho đến khi người Anh tới vào đầu thế kỷ thứ 18. Lịch sử hay ghi “triều đại tận diệt”, chỉ có nghĩa là lãnh đạo không còn, nhưng dân chúng vẫn còn nguyên đó và vẫn sinh hoạt, tiếp cận, ảnh hưởng lẫn nhau.

Ấn Độ gồm 3 khu vực địa lý rộng lớn, đa dạng về chủng tộc/ngôn ngữ/văn hoá/lịch sử, gồm miền Bắc, miền Tây Bắc và miền Nam. Sắc tộc của Ấn Độ ngày nay vẫn phức tạp và giữ khung từ ngàn năm cũ.

– miền Bắc và Tây Bắc: da trắng: người Hindi, Rajasthan, Afghan, Persian, Bactrian chiếm thành phố. Lãnh đạo và giới ưu tú toàn người da trắng, người da ngăm nếu còn sót luôn luôn ở địa vị thấp kém.

– miền Nam : da sậm đến rất sậm: người Dravidian, Mundi và Tamil.

Từ ba miền độc lập và riêng biệt này, các đế quốc/vương triều khai mở/suy tàn cùng lúc hay kế tiếp nhau. Trong bài viết này chỉ nhắc rất đơn sơ đến khung thời gian từ TK thứ VI TCN đến TK thứ VI SCN, thời điểm nghệ thuật tạc tượng Phật tại một số vương triều:

Miền Bắc: hai đế quốc Maurya (321TCN–185 TCN) và Gupta (320-550SCN)

Miền Tây Bắc: hai đế quốc Bactria (250TCN-10SCN) và Kushan (30-230SCN).

Miền Nam: đế quốc Satavahana (230TCN-220SCN)

Có cả thẩy ba sắc dân lần lượt đến tiểu lục địa này: Australoid, Dravidian và Scythian.

Người Australoid đến sớm nhất, da rất sậm, nay chỉ còn là thiểu số sống trong rừng núi phía Nam Ấn Độ, cao nguyên Deccan. Người Dravidian, da sậm, ban đầu ở vùng Bắc Ấn khu vực sông Indus, để lại di tích văn minh Harappa rất cao. Ngành dân tộc học cũng chưa thể xác định hai đám Australoid và Dravidian đến lục địa này từ hồi nào.

Bắt đầu từ 2000TCN, bộ tộc người Aryan da trắng du mục rải rác khắp vùng thảo nguyên Âu-Á, cùng ngôn ngữ Iranian và cùng văn hóa thờ mặt trời. Herodotus người Hy Lạp sống cùng thời (484-425TCN), sử gia đầu tiên của nhân loại, viết: “nếu những nhóm này hợp nhất dưới một lãnh đạo, họ sẽ là thế lực lớn nhất thế giới.”

 Bộ tộc Sakya của Phật

 Người Saka/Sacas/Sakae/Sakian/Sakya là một trong đám Aryan – vượt đèo Khyber, quét ngang nước Persia/Ba Tư như sấm sét, đến Ấn Độ làm nhiều đợt từ TK thứ 5 TCN (2)

Người Hy Lạp gọi người Sakya là Scythian. Bộ tộc Sakya/Scythia tốn nhiều giấy mực của các học giả. Có nhóm du mục chỉ sống trên lưng ngựa theo gia súc đi tìm đồng cỏ. Đàn bà/trẻ em đánh xe ngựa, đàn ông cưỡi ngựa chăn súc vật. Nhưng cũng có những nhóm định cư có thành phố thành trì đóng tầu biển. Ở đâu, họ cũng xuất sắc về kỹ thuật chiến tranh, đúc đồ đồng, luyện thép, làm vũ khí, nữ trang. Khuynh hướng hiện nay trong giới học thuật công nhận người Sakya/Scythia là da trắng nói tiếng Iran/Ba Tư. Không rõ nhánh Sakya định cư ở vùng Lumbidi, quê hương của Phật thuộc nhóm nào và đến Lumbini hồi nào. Câu hỏi này xin đợi các học giả Phật giáo.  

 http://depts.washington.edu/silkroad/exhibit/sakas/images/map.jpg  

 Trên bản đồ, vùng mầu xám, gồm bốn vùng chính: Gandhara, Sakastan, Mathura và Ujjayini, là vùng ảnh hưởng của người Sakas/Sakya vào năm 50 TCN. Lumbini ở sát ngay chân núi Himalya, phía bên phải Mathura, cách biên gìới Ấn Độ 25km. Dù hồi đó chưa có nước nào tên Ấn Độ và Nepal, ngày nay cả hai nước đều nhận Phật là ngườì của dân tộc mình, mặc dù biết rất rõ vài trăm cây số hay một vài trăm năm chỉ là con số tương đối, khi chưa có ghi chép.

(Chú thích: là giống dân du mục nên thời điểm/địa điểm/bộ lạc người Aryan di chuyển/định cư là điều khá mờ mịt, nghiên cứu Tây phương vẫn có những sai biệt. Riêng các tiểu bang Ấn Độ tới giờ này vẫn nhìn văn hóa, lịch sử, tôn giáo…tiểu bang láng giềng theo cách khác nhau. Lý do: từ mấy ngàn năm, họ là những tiểu vương quốc khác nhau)

Phật là ai?

Trước khi có Phật giáo, vùng Ấn Độ và Pakistan theo đạo Hindu. Hệ thống giai cấp/caste của Hindu, có 4 tầng là 1. Tăng lữ 2. Võ sĩ/quí tộc 3. Thương nhân và 4. Người giúp việc. Dòng họ đức Phật theo Hindu, giai cấp quí tộc. Năm sanh Đức Phật được ghi chép khác nhau: 335, 565, 623 TCN. Các nước theo đạo Phật kỷ niệm ngày sanh của Phật cũng khác nhau. Khi Đức Phật thành lập đạo Phật, cộng đồng Phật giáo chủ trương không phân biệt giai cấp, vì thế rất đông người theo. Sử sách ghi Phật là người thuộc bộ tộc Sakya, mang tên Sakyamuni/Thích Ca Mâu Ni có nghĩa “Người Khôn Ngoan của Sakya”. Đức Phật giảng và hành đạo ở Benares, Bodgaya… dọc sông Ganges/Hằng/

Biên giới giữa các bộ tộc, các tiểu quốc rất mơ hồ, cách nhau bởi thiên nhiên. Bằng cớ thân mẫu Phật rời kinh đô đi bộ về nhà bố mẹ ở Devadaha để sanh nở. Có phù điêu ghi lại bà vịn cành cây, sanh Phật giữa rừng. Năm 1896, Dr. Anton A. Fuhrer tìm thấy cột pillar-6.4m của vua Ashoka, có ghi chữ “Thương quí của các thần linh” (devanampiya), vua Piyadesi, đã đến thăm và tôn thờ nơi đây bởi vì Đức Phật, nhà hiền triết của bộ tộc Sakyans, đã được sinh ra. Vua đã làm một tượng đá và dựng cột đá. Làng Lumbini được miễn thuế và chỉ phải trả 1/8 sản lượng. ”(3) Piyadasi, tức vua Ashoka còn cho đặt một viên đá ngay đúng chỗ Phật sinh. Phiến đá này được đào thấy năm 1996 ở Lumbini.

Những dấu hiệu Phật dùng hay Ashoka tặng cho Phật đều đến từ bộ tộc du mục Sakya/Scythia: 1.Sư tử trên đỉnh cột pillar 2.Tháp stupa cất giữ di tích Phật theo mô hình các gò đất tròn chôn ngươì chết 3.Vòng luân hồi của Phật làm theo hình chariot/bánh xe ngựa 4.Ý niệm “bánh xe luân hồi” là của Văn Minh Thảo Nguyên/Steppe Civilization.

Khoảng 3000 TCN, người miền Mesopotamie chế ra bánh xe có 2 trục làm bằng gỗ rất chắc, do bò kéo. Khoảng 2000TCN, vành bánh xe nhẹ hơn. Từ 1700TCN, bánh xe nhẹ hơn nữa cho ngựa kéo. Người Scythian đầu tiên thuần hóa loài ngựa. Ngựa và bánh xe ngựa thay đổi bộ mặt thế giới. Ngựa và bánh xe dẫn họ đi khắp thảo nguyên mênh mông hai lục địa Âu- Á. Đó là lý do khiến người Scythian du nhập sự thờ phụng bánh xe vào đạo Hindu. Phật có thể đã mượn vòng bánh xe quay cho ý niệm về kiếp luân hồi. Khi sức khoẻ suy dần, Đức Phật tự ví mình …”Ta như chiếc xe bò đã cũ, chỉ còn nhờ các dây chằng chống đỡ…”

(Chú thích: người Trung Hoa vất vả, kiên trì mấy trăm năm mới gây được giống ngựa lai Trung Hoa – Tây Vực (tức ngoài biên ải Ngọc Môn Quan, ám chỉ Ba Tư, Trung Á, Yeuzhi. Đời Đường, việc mua ngựa giống từ Trung Á là việc tối quan trọng)

Đế quốc Mauryan (321TCN-185 TCN)

Năm 321TCN, Chandragupta, khởi nghiệp lập đế quốc Mauryan ở miền Đông Bắc Ấn Độ. Kinh Phật có ghi Chandragupta có liên hệ với bộ tộc Sakya, cùng yếu tố Aryan.

Vương triều Mauryan gồm thâu đất đai phía Bắc tiểu lục địa Ấn độ về một mối, đặt kinh đô Pataliputra bên bờ Nam sông Ganges/Hằng, gần cửa sông đổ ra vịnh Bengal (bây giờ là Patna, thành phố lớn thứ nhì ở bờ biển đông Ấn Độ, sau Calcutta). Đế quốc Mauryan cực thịnh khi vì vua thứ ba, cháu nội Chandragupta, là đại đế Ashoka (trị vì khoảng 269- tới 231TCN) chinh phục tới 90% nước Ấn Độ ngày nay, chừa một mảnh nhỏ xíu ở cực Nam, vương quốc Cholas. Ashoka hối hận gây ra chiến tranh khiến 100,000 chết và 150,000 người Kalingas bị thương. Nhìn cánh đồng loang máu dân Kalingas (tiểu bang Orissa bây giờ) vừa bị mình tận diệt, ánh lên cảnh tượng cực kỳ ai oán và phi lý của cuộc chém giết, Ashoka thất kinh tỉnh giấc “Ta rất đau đớn vì sự giết chóc, đuổi dân đã xảy ra khi một nước bị chinh phục…”(3). Ashoka cải thành Phật tử năm 260.

Ashoka là nhà lãnh đạo đầu tiên đặt Phật giáo lên hàng quốc giáo. Ông gửi phái đoàn ngoại giao kiêm truyền giáo tới Roma, Ceylon, China, Gandhara, Kashmir, Pakistan, Afghanistan; xa nhất mãi tận đảo Cyprus. Ashoka triệu tập Đại Hội Phật Giáo lần thứ ba.

Ashoka tôn trọng tất cả tôn giáo: Brahman, Phật giáo, Hindu và Jain, điều thật vô cùng mới lạ và hiếm có nơi các lãnh đạo tôn giáo và chính trị, ngay cả thời bây giờ. Ashoka đặc biệt bảo trợ Phật giáo: nhà vua tặng Phật danh hiệu Shakya Lion/Sư Tử dòng Sakya. Nghệ thuật Phật giáo thời Ashoka là những tháp stupa (chứa tro tàn của nhục thân Phật) và cột đá pillar. Trên đỉnh những cột pillar Ashoka dựng đều có tượng sư tử tượng trưng cho Phật. Tuy ánh sáng Phật giáo đã phai tàn, ngày nay Ấn Độ vẫn lấy đỉnh cột pillar này làm quốc huy.

Đông Nam Á cũng có những di tích thời Ashoka. Gần Chiang Mai, Thailand có cột đá Ashoka Pillar tại Wat U Mong. Năm 245BCE, công chúa Samghamitta Theri đã bứng một cây bồ đề nhỏ từ nơi Phật nhập diệt mang trồng ở Sri Lanka/Tích Lan. Anuradhapura thành Thành Phố Thiêng Liêng cho Phật tử thế giới chiêm bái, cây bồ đề Sri Maha vẫn xanh tươi gìn giữ mối duyên xa dù đã hơn 2.250 năm tuổi. Trong bài giảng Digha Nikaya, Phật dặn không được vẽ tranh hay nặn tượng sau khi người qua đời. Có lẽ con mắt nhìn xa hàng ngàn năm sau, Phật như thấy được những chướng quái khi nhân gian xây chùa cho lớn, tước vị cho kêu, võng lọng linh đình. Gác chuông cố vươn thấu mây xanh nên để mất dấu chuông vàng?

Suốt từ khi Phật nhập diệt cho đến thời Ashoka, khoảng 300 năm, ngươì ta nhớ đến Phật qua hoa sen, sư tử, cây bồ đề, bánh xe luân hồi hay bàn chân khắc trên nền đá. Ví dụ như tấm sa thạch/sandstone màu nâu (4), có niên đại TK 1 TCN, 67.5 x 46.25 x 15cm, thuộc đại tháp stupa ở Amaravati, giữa là bánh xe tượng trưng cho Ba Châu Báu/Tam Bảo, xung quanh có hoa/giây leo/cành lá/nam thần Yaksha trong truyền thuyết Hindu, Jain và Phật giáo.

Những lời vua Ashoka khắc trên cột đá pillar, không dạy về Tứ Diệu Đế, chỉ nhấn mạnh đến phần thực hành trong cuộc sống thường ngày: “Những ai khen quá nhiều tôn giáo mình, do một niềm tin quá độ, và chỉ trích các tôn giáo khác với ý nghĩ là “Để tôi làm rạng danh tôn giáo tôi”, thật ra chỉ là làm hại chính tôn giáo mình. Vì thế, sự tiếp xúc giữa các tôn giáo là điều tốt. Mọi người nên lắng nghe và kính trọng niềm tin và điều tốt từ các tôn giáo khác” (3). Những điều nhân bản này không hề được khắc tại bia đá ở Ai Cập, Babylon hay La Mã.

Sau Ashoka (khoảng 200 TCN) tuy triều đình Kushans có giảm nồng nhiệt, kiến trúc Phật giáo vẫn là một bảo trợ tâm linh cho toàn xứ sở. Huy hoàng nhất là Sanchi, được xây dựng trong hơn 100 năm.

Sanchi-Trái Tim Của Thiên Đàng, tới giờ vẫn là một địa điểm hành hương cho cả Phật tử và những người yêu nghệ thuật khắp thế giới. Cổng phía đông vào stupa Sanchi, nữ thần Yahshi no tròn nghiêng mình khép mở tam giác dát vàng đùi nghiêng dát ngọc cùng ngựa voi đón chào du khách vào thăm tro cốt Phật. Nếu không sợ đứng tim say men nồng tình yêu trên những chạm khắc, nên đến xem tận nơi, bài viết này chữ nghĩa nghèo nàn không theo kịp nhịp độ mê đắm của ngườì xưa. Dù chỉ còn di tích trên đống đổ nát (hiện giờ thuộc thủ đô Bhopal của Madhaya Pradesh/tiểu bang lớn nhất Ấn Độ), Sanchi vẫn là một thúc đẩy văn hóa, tôn giáo và nghệ thuật.

50 năm sau khi vua Ashoka mất, đế quốc Mauryan suy tàn, bị chia thành nhiều tiểu quốc.

Vương quốc Satahavana (230TCN-220SCN) phong cách Amaravati

Vương quốc này là thuộc địa của đế quốc Mauryan. Sau khi Ashoka qua đời, Satahavana tuyên bố độc lập. Amaravati dựa bờ sông Krishna (tiểu bang Andhra Pradesh bây giờ), một miền đất phì nhiêu gần bờ biển đông nam Ấn Độ. Nơi đây đã là cái nôi của văn minh bản địa người Dravidian trước khi Phật giáo tới. Thần thánh thương người Amaravati cách riêng, cho họ tính hồn nhiên, sinh ra như để uống cạn giọt đắm say của niết bàn trong kiếp này, liệu có kiếp sau không mà đợi. Vì vậy nghệ thuật chạm khắc những pho tượng kích thước bằng người thật, vòng tay thân thể tròn trịa của hai nam nữ thần bản mệnh Yaksha và Yakshi, mê đắm đến nỗi những chùm bông giấy cũng đỏ tê đỏ tái ngượng ngùng.

Loại nghệ thuật này cũng như ý niệm trưng bày/tôn thờ Linga-Yoni, cơ quan sinh dục nam nữ, là văn hóa cuả Ấn Độ trải mấy ngàn năm. Các nhà Nho Trung Hoa, và ngay cả người Tây phương chỉ nhìn thôi cũng khó… nuốt. Có lẽ bằng cấp càng cao càng xa rời ý nghĩa ban đầu của giòng sinh mệnh, nên nhìn đâu cũng thấy tội lỗi và trừng phạt; dù triết lý ngoằn ngoèo nhưng chỉ nhìn thấy bề nông cạn của sự việc, khiến quên đi phần dịu ngọt sâu thẳm nhất của quấn quít. Không như người bản địa Amavarati: mượn sự giao thoa làm món quà dâng tặng thần linh đang đứng trên cao vui vẻ ngắm nhìn đôi nam nữ đạt tới cõi hạnh phúc không cùng nhất. Điêu khắc Amavarati nằm ngoài và rất xa sự tưởng tượng của con người, hình như có bàn tay trợ giúp của thần linh hoan hỉ, không phải thần linh nhăn nhó. Một phong cách vượt lên trên các giáo điều lùng bùng của các nhà đạo đức thật (lẫn giả), có lẽ sẽ không bao giờ còn lập lại trên trái đất này.

Những bức tượng thần thánh Ấn Độ hay tượng Phật thường đeo bông tai rất nặng, nhiều khi trĩu xuống tới vai. Chẳng hạn như đôi bông tai bằng vàng có niên đại TK thứ nhất TCN, ở Andhra Pradesh, kích thước 3.8 x 7.6 x 4 cm, khắc hình voi và cọp cho thấy địa vị cao quí của chủ nhân, phải nhìn tận nơi mới rùng mình vì sự tinh xảo trong kỹ thuật và quí phái trong kiểu mẩu. Đôi bông này hiện thuộc The Metropolitan Museum of Art/ New York, hai năm trước có trưng bày cho công chúng. (http://www.metmuseum.org/toah/works-of-art/1981.398.3,4).

ai dài như cánh hoa sen là một trong 32 tướng quí của Phật. Người Việt mình tán rộng cho là dấu hiệu của sống lâu. Quí tộc Sakya đều đeo bông tai. Phật có đeo bông hay không, không ai rõ vì mấy ông vua thời đó đặt nghệ sĩ tạc tượng Phật qua hình ảnh họ. Ở Trung Hoa, Võ Tắc Thiên cho tạc tượng Phật có khuôn mặt giống mình, và tự xưng “Lão Phật Gia”.

Amaravati cách Sanchi 255 km. Nếu đã đi Sanchi cũng nên đi Amaravati cho hết ý nghĩa hành hương. Điều đáng lưu ý, hai địa danh Amaravati và Champa trên xứ Ấn Độ cũng được lập lại ở xứ Chămpa/Chiêm Thành. Điều đáng lưu ý nữa, hai láng giềng của VN, Chămpa và Cambodia có những sưu tập cổ vàng/bạc đẹp và tinh xảo. Hiện nay, Ấn Độ, Bali, Malaysia còn giữ được motif nữ trang Scythia. Riêng người Cambodia và Bali, thật sự là nghệ sĩ, hoàn toàn làm chủ được miếng vàng miếng bạc trong tay mình.

Dưới thời Ashoka, Amaravati thành một trong trung tâm Phật giáo lớn nhất. Quần thể stupa ở Amaravati được xây dựng thời Ashoka, hoàn thành năm 200SCN, ghi toàn cảnh về cuộc đời Phật. Phong cách tượng Phật Amaravati không giống với Gandhāra và Mathura. Các học giả cho rằng phong cách này đã làm khuôn mẫu cho điêu khắc ở Sri Lanca và Đông Nam Á. Tượng hoàn toàn có tính bản địa người Dravidian. Tóc trên đỉnh đầu bới kiểu ushsina ba hay bốn vòng, tóc trên trán quăn hình ốc, mặt tròn đầy đặn, da ngăm, mắt sâu, áo từ vai trái rũ xuống theo kiểu nam thần Yaksha. Thân dưới mặc Antariya dài tới mắt cá chân, có khi khoác một tấm vải lớn choàng qua đầu, nếp gấp để trên tay trái, đó là Uttayria dài rộng các tăng nhân khoác ngoài khi đi du hành. Tượng Phật kế bên, là một ví dụ phong cách Amaravati TK 3 hiện bày tại bảo tàng Archaeological Survey of India/Amaravati. Kiểu bới tóc ushsina, một Phật tử cứ ngỡ Phật đội mũ cho ấm đầu. Chắc Phật buồn cười với ý tưởng dễ thương.

Đế quốc Bactria (256TCN-10SCN): phong cách Indo-Greek

Sử gia phương Tây, cho rằng tượng Phật là sự pha trộn giữa nghệ thuật bản địa Ấn Độ và Hy Lạp. Sử gia Ấn Độ Ananda Coomaraswamy (1877-1947) cho rằng hình tượng Phật phỏng theo nam thần Yaksha của văn minh Indus Valley.

Đại đế Alexander (356-323TCN) người chiến binh không-chiến-bại thành lập đế quốc Hy Lạp trải dài từ biển Mediterranea/Địa Trung Hải tới Hy Mã Lạp Sơn. Những dũng tướng của Alexander chia nhau đi bốn phương nối dài vương quốc Hy Lạp. Tướng Hy Lạp Ptolemy (367-283TCN) sang Ai Cập thành lập đế quốc Ptolemaic kéo dài 300 năm. Triều đại nữ hoàng Hy Lạp Cleopatre (69–30 TCN) là triều đại cuối cùng của vương quốc Ptolemaic tại Ai Cập.

Từ năm 256 TCN, điểm xa nhất của thế lực Hy Lạp ở Trung Á là vương quốc Greco-Bactria, gồm vùng Bactria và Sogdina (đông Iran, Afghanistan và Pakistan bây giờ). Nhưng phải đợi đến khi Demetrius/200-180TCN, một quí tộc Hy Lạp, vượt đèo Khyber đến miền Bắc Ần Độ, biên giới thiên nhiên là rặng Hindu Kush – thì văn minh Hy Lạp mới gặp gỡ văn minh Mauryan, khai mở một nền văn minh mới có tên Indo-Greek/Ấn Độ-Hy Lạp. Trong hai thế kỷ, vương quốc Bactria có 30 vì vua, nhưng quan trọng nhất là ông vua đầu tiên Demetrius và ông vua cuối cùng Menander.

a. Demetrius qua đất mới làm vua, mang theo cả văn minh Hy Lạp, thiên văn, kiến trúc, nặn tượng, đúc tiền. Vua Demetrius cải sang đạo Phật, tất cả các tôn giáo được bảo trợ tối đa. Ở địa điểm khảo cổ Sirkap gần Taxila (Pakistan bây giờ), những tháp stupa kiểu Hy Lạp, do Demetrius xây cho thấy sự giao thoa giữa nghệ thuật Hy Lạp/Phật giáo/Hindu/Zoroastrian-Hoả giáo. Nơi đây tìm thấy nhiều đồng tiền khắc hình Demetrius. Có đồng chỉ 12mm đường kính, bằng bạc, nét chạm khắc tinh vi, nghệ thuật điêu khắc sau này phải ngả mũ chào thua. Chữ viết của vương qưốc Bactria là chữ Hy Lạp.

b. Vua Menander, vì vua cuối cùng của vương quốc Bactria , 165-125TCN cũng cải theo đạo Phật năm 150. Từ đấy, con đường từ Bactria là cây cầu dẫn đạo Phật đi bốn phương. Sự chinh phục êm đềm của Demetrius và Menander khiến văn hóa Hy Lạp đi xa và ở lại lâu bền hơn cả đội quân sấm sét của Alexander Đại Đế.

Thời Menander, tiền đồng và bạc được đúc với số lượng lớn và lưu hành khắp nơi. Điều này giải thích sự hiện diện của một số đồng tiền vàng La Mã/Hy Lạp/Bactrian… ở một số nơi, không có giao thương trực tiếp với những xứ này. Trường hợp đồng xu La Mã tìm thấy ở Óc Eo/Tiền Giang có hình vua Antoninus Pius (trị vì 138-161) và người kế vị là Marcus Aurelius (trị vì 161-180) có thể ở trong trường hợp này.

c. Phong cách Indo-Greek, chịu ảnh hưỏng văn minh Hy Lạp và Parthian, dùng chữ viết Hy Lạp nên những cột pillar và tảng đá vẫn mang ảnh hưởng của nền văn minh Greek-Parthian/Hy Lạp/Ba Tư.

Bức tượng Phật tìm thấy tại một tu viện Afghanistan, niên đại 800 thể hiện một vương tử xinh trai có vẻ sắp lên làm vua, theo phong cách Indo-Greek: tóc dợn dài quá vai. Tượng mang vòng tay vòng cổ bông tai theo truyền thống quí tộc Scythia. Người Hy Lạp gọi người Sakya là Scythian. Scythian nổi tiếng làm nữ trang bằng bạc và vàng ròng từ trước 800 TCN. Di chỉ từ mộ vua Scythia, có nhiều nữ trang vàng ròng, có miếng nặng tới 428gram vàng (13.7605 troy ounces) (5). Người Scythia duy nhất trên thế giới làm nữ trang bằng vàng những con vật trong đời sống du mục: sư tử, ngựa, trừu, chó… làm quà tặng dâng lên thần linh. Nữ trang là thước đo giầu sang cho đàn bà và quyền lực cho đàn ông. Vua chúa Ấn Độ đeo đầy kim cương ngọc trai ruby emerald, trên ngực trên tay quấn cả trên khăn turban, cũng do bắt chước truyền thống nữ trang từ người Scythia. Qua tới Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam … nữ trang biến mất trên tượng Phật, không rõ lý do.

(Chú thích 1. Parthian Kingdom: 247TCN-224SCN) đế quốc Iran/Ba Tư, láng giềng của Kushan và Scythia. Người Parthian cũng là nhóm Aryan, cùng ngôn ngữ với đám Sakya/Scythian, nền văn minh xuất chúng ảnh hưởng đến chính trị/văn hoá/tôn giáo toàn thể vùng Trung Đông, Trung Á và tiểu lục địa Ấn Độ.

2. Afghanistan Hidden Treasure, còn gọi là Bactrian Treasure, gồm 4 tấn di chỉ, gồm 21,618 đồ vật, nũ trang vàng, tượng ngà, tượng đồng….Trong cuộc nội chiến những năm 1990 với Taliban, nhân viên Kabul Museu đã liều chết cất dấu kho tàng vĩ đại này. Cuộc triển lãm vòng quanh thế giới 2008-2011 (Wahington DC, San Francisco, Houston, New York, Canada, Bonn) là một chấn động trong giới khảo cổ, nữ trang, nghệ thuật. Kho tàng gìờ này đang ở London từ 3/3/2011 đến 07/03/2011. Ngắm nhìn di vật, cảm thấy hiện tại vô cùng bé nhỏ trước sự tinh xảo vượt bực của quá khứ.)

Đế quốc Kushan (30-230SCN)

Tokharian (Trung Hoa gọi Yuezhi, qua tiếng Việt là Nguyệt Chi), nhóm da trắng Aryan đi xa nhất về phía Á Châu, ráp với Trung Hoa. Họ cao lớn, mắt xanh, tóc đỏ hay vàng nhạt dợn sóng. Năm 162 TCN, bị Hung Nô lấn đất, đám Yuezhi tan tác làm hai nhóm:

1. Nhóm Xiao Yuezhi/Tiểu Nguyệt Chi, ở lại Tarim Basin hợp vớí người Hung Nô thành lập đế quốc Uyghur, mảnh vụn oanh liệt là miền Tân Cương bây giờ. Có một nhóm khoảng 150 gia đình chạy xuống Vân Nam, góp phần lập nên văn hoá Điền. Di chỉ bằng đồng tả cảnh đi săn của người Điền và người Scythian giống hệt nhau, cho thấy liên hệ thoạt nhìn có vẻ bất ngờ gìữa người Yuezchi và Schythia ở một địa điểm xa lắc là Vân Nam (6). Nếu đúng như vậy, sức sống bền bỉ và bàn chân di cư của con người thật đáng kinh ngạc. Tượng con trừu đá Chùa Dâu/Bắc Ninh có thể liên hệ đến đám Yuezhi này.

2. Nhóm Da Yuezhi/Đại Nguyệt Chi: người Hung Nô giết Vua Yuezhi xẻ đầu làm ly uống rượu, hoàng hậu thống lãnh 100,000 kỵ binh và 400.000 dân di cư đến vùng Indo-Saka của người Sakya. Quyết định lịch sử của nữ tướng đã thay đổi hẳn bộ mặt miền Âu-Á này. Ba mươi năm sau, lúc vương quốc Greco-Bactria suy tàn, người Yuezhi từ Sogdiana tiến qua, lập ra vương triều Kushan/Quế Sương lừng lẫy: hoàn thành giấc mộng không tưởng của bất cứ dân tộc nào sau một cuộc viễn trình xa thăm thẳm.

Trong 400 năm, đế quốc Kushan đua nở như một bức tranh rực rỡ đủ các gam màu của thảo nguyên/sa mạc/núi tuyết. Văn minh Kushan nổi tiếng ngang với ba nền văn minh Hán, La Mã, và Parthian.

Cư dân vương quốc Kushan, còn có tên Indo-Scythian, gồm ba sắc tộc da trắng 1. người Sakya/Scythia 2. người Parthian và 3. người Yuezhi. Người Ấn Độ miền Bắc hiện nay cao lớn, có râu quai nón, da trắng, mũi cao là hậu duệ của pha trộn này, cộng thêm yếu tố Hy Lạp từ thời Bactria.

a. Vua Kanishka

Người Kushan cũng là ngươì Scythia. Cùng yếu tố Aryan, có thành phần “người Sakya” tiềm tàng, khiến người Kushan hết lòng bảo trợ và giao giảng Phật giáo. Trong bốn trăm năm, họ sáng tác theo đạo Phật cả một giòng nghệ thuật, gồm điêu khắc, kinh sách, nghi lễ và tranh vẽ trên tường. Hai người Yuezhi đầu tiên dịch kinh sách Phật sang tiếng Trung Hoa là Lokaksema (137-189) dịch kinh Đại thừa, và Dharmaraksa (230-?) dịch kinh Liên Hoa. Hai tượng Phật lớn nhất thế giới ở Bamiyan/Afghanistan bị Taliban phá hủy năm 2001, là tác phẩm của người Kushan vào TK VI hay V.

Làm vua từ 127-151, Kanishka được dâng tặng là “vua của các vì vua/maharajah”, được so sánh với hoàng đế vĩ đại Ashoka, tiếp nối xây dựng văn minh Phật giáo với bốn điểm chói sáng: chấp nhận khác biệt sắc tộc/tôn giáo, chia đều phúc lợi cho cư dân bằng thương mại; hết sức bảo trợ cho nghệ thuật; khuyến khích vũ/nhạc/họa/điêu khắc/nữ trang/lễ nghi. Kanishka là người triệu tập Đại Hội Phật Giáo lần thứ tư.

Dưới sự cai trị khôn ngoan của Kanishka, rất nhiều thương nhân, nghệ sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ đổ tới Kushan.

Kanishka dùng đường nét kiến trúc và chuyên viên từ Hy Lạp. Ông cho xây một bảo tháp cao 182.88m ở Peshawar, gấp đôi tượng Nữ Thần Tự Do ở New York/93m (tính tới chỏm đuốc). Kanishka bao dung tất cả sắc dân, tôn giáo và nghệ thuật trên vương quốc rộng lớn. Thượng đế, thần thánh và Phật xuất hiện dưới nhiều dạng.

Kanishka có quyết định lịch sử: không dùng chữ Hy Lạp nữa, mà chính thức dùng tiếng Bactrian tức tiếng Parthian, viết theo Hy Lạp alphabet. Từ đó, chữ viết Hy lạp biến mất ở vùng Bactria. Manh mối này có thể giúp định niên đại những đồng tiền tìm thấy ở các địa điểm khảo cổ liên hệ

Học giả vẫn tranh cãi không rõ Amaravati hay Kushan, nơi nào nghệ sĩ đi tiên phong tạc tượng Phật như người thật, không chỉ là hoa sen hay bàn chân trên đá như dưới thời Ashoka nữa. Giới học thuật cho văn minh Kushan có hai trung tâm khác nhau: Gandhāra và Mathura .

b. Phong cách Gandhāra

Gandhāra là kinh đô mùa hè của đế quốc Kushan. Gandhāra nằm giữa đèo Khyber và sông Indus (Afhganistan và Pakistan bây gìờ) điểm giữa con đường Tơ Lụa. Vì vậy, Gandhāra là nơi gặp gỡ của nhiều nền văn minh: Ba Tư/La Mã/Hy Lạp/Ấn Độ. Gandhāra mượn của Hy Lạp dây nho, vòng hoa, thiên thần, thủy thần. Trào đình Kushan mời nhiều nghệ sĩ từ Hy Lạp, nhưng lực lượng chính vẫn là người địa phương. Nghệ sĩ Ấn Độ vinh dự được mô tả “có đôi tay của người Hy Lạp, tâm linh của người Ấn Độ.” Gandhāra được coi là viên ngọc quí của văn hoá Phật giáo. Phong cách Gandhāra thể hiện sớm nhất hình ảnh về Phật. Phong cách này có ảnh hưởng khắp vùng Trung Á và Nam Á. Nguyên liệu là đá schist (4) đậm mầu. Thời kỳ Gandhāra, tượng Phật theo ba mẫu:

1. Phần đầu:

Tượng có tóc bới kiểu ushsina, mặt trái soan, cằm vuông, mắt dài hình trái hạnh hơi lồi hé mở trong trạng thái thiền, lông mày cong, đôi môi đầy, cằm vuông, trái tai ngắn, mũi thanh. Ở Afghanistan, cũng tìm thấy nhiều đầu tượng Appolo và Zeus. http://www.rhoffmangallery.com/Root/ARTISTS/GODS/Godshome.htm

2. Tượng Phật đứng

Người nghệ sĩ cho Phật giống thần Apollo, thần Zeus của Hy Lạp với áo xếp nếp, mặt vuông, tóc dợn, tóc bới cầu kỳ, áo chùm toga kiểu Hy Lạp rũ từ vai trái, đeo nữ trang như quí tộc Scythian và Ấn Độ. Khuynh hướng Gandhāra có vẻ như theo sát kích thước thân hình người thật, lưu ý tới cơ bắp, dáng đứng, cử động bàn tay ngón tay

Bức tượng kế bên, niên đại TK 1-3SCN, hiện ở Musée Guimet/Pháp, Phật còn là ông hoàng trẻ nên có ria mép theo kiểu ngươì Kushan. Đầu gối phải hơi nhô ra dưới lần áo khiến bức tượng giống như sắp bước ra khỏi bệ thăm hỏi nhân gian. Riêng áo xếp nếp được người Yuezhi mang trở lại đất mẹ Turfan/Tarim Basin, rồi từ đó qua Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, với vài biến cải, thêm áo lót mình ngang ngực và lưng thắt dây có buộc nơ. Trung Hoa có thêm Phật Bà Quan Âm, có nhiều giải lụa phất phơ như tiên nữ trên nắp hộp bánh trung thu.

3. Phật trên đường giảng đạo, có nhiều tăng chúng và người cúng dường

Di sản Gandhāra bền với thời gian vì đa số tạc bằng phyllite màu xanh và mica schist màu xanh-xám lấp lánh, chỉ có ở vùng Gandhāra. Cả hai thuộc loại metamorphic (4) rất mịn, cho phép chạm khắc đường nét tinh vi. Một lớp sơn quét bên ngoài sau đó được mạ vàng khiến pho tượng đá xanh chợt mang màu huyền bí và cổ kính. Loại vật liệu kém bền là terracotta/đất sét và stucco (đá nghiền nhỏ/cát/nước và keo dính), tượng làm bằng lọai vật liệu này dễ gẫy.

Thế kỷ thứ 5, người Hung Trắng (cũng thuộc sắc tộc Scythia) tàn phá, hủy hoại hầu như hết cả, nhưng phong cách Gandhāra vẫn kéo dài tới TK 7.

Một hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn là đại đế Babur khai sinh ra triều đại Mughal ở Ấn Độ, người chíến binh khét tiếng, vó ngựa chinh phục tàn sát suốt tiểu lục địa, chung cuộc cũng muốn được chôn ở vườn Kabul/Afghanistan. Năm 1530, Babur được như nguyền. Trăm năm sau không hẹn, một du khách người Mỹ sững sờ nhìn tháp đá nhuộm đỏ dưới ánh vàng rực rỡ nắng chiều, cũng muốn tro tàn được rải trên cầu đá dẫn vào đền Angkor Wat/Cambodia. Năm 1936, gia đình đã làm theo lời ước của bà.

Bạo chúa buông gươm du khách đường xa học trò say chữ …hoá ra đều đa tình như nhau cả. Điều gì? Nỗi bí nhiệm của lòng tin hay vẻ đẹp trời đất mênhmang? Sẽ mãi mãi là ẩn số. Nhân gian thôi đừng đoán. Lặng thinh cho những mảnh hữu tình -dầu khác thời gian khác tinh cầu – lặng lẽ gặp nhau ở cõi vô cùng.

c. Phong cách Mathura

Mathura ở phía Đông và Nam, kinh đô mùa Đông của đế quốc Kushan (vùng Pataliputra, Patna bây giờ) gần cửa sông Hằng, dùng chữ Brahmi bản địa, văn hóa bản địa.

Nếu phong cách Gandhāra ảnh hưỏng Hy Lạp, phong cách Mathura hoàn toàn bản địa từ hai tôn giáo đã bắt rễ từ lâu đời là Brahman và Jain.

Trước khi người Yuezhi đặt chân đến vùng này, Mathura đã là một trung tâm tôn giáo/văn hóa lớn thờ nam nữ thần bản địa Yaksha/Yakshi. Yaksha tay cầm bánh xe luân hồi ngồi trên tòa sen, Yakshi khỏa thân khêu gợi hơn Yakshi ở Sanchi, đồi ngực tròn như trái nõn mùa xuân, hai đùi khép chéo chan chứa mầm hoan lạc.

Tượng Phật được tô vẽ theo nhiều hình dạng. Không giống như tượng Phật ở Gandhāra khoác nhiều vải vóc rũ xuống thành nếp gấp, nghệ sĩ Mathura cho Phật khoác vải rất mỏng nhẹ theo kiểu địa phương vì trời nóng. Phật có trái tai dài, mũi cao, môi đầy và mắt lớn hơn. Phật có vòng hào quang chạm hoa sen và cành lá. Không biết bàn tay nghệ sĩ Mathura vô danh và hóm hỉnh nào, lần đầu tiên đã điểm cho Phật nụ cười huyền bí, nhẫn nại chịu đựng đám nhân gian van nài đủ thứ. Người nghệ sĩ ấy chắc hẳn là Phật tái sinh.

Tượng Mathura rất dễ nhận, nhờ tạc bằng đá vôi/limestone Sikri địa phương màu đỏ với những vết đốm màu kem.

Đế quốc/Phong cách Gupta (320-550 SCN)

Triều đại Gupta dần dần thay thế đế quốc Kushan. Lãnh đạo là người Scythia. Đế quốc này bao phủ vùng rộng lớn miền Bắc Ấn Độ gồm Pakistan, Bangladesh, Tây Ấn Độ. Về phía đông gồm cả Burma, phía tây gồm cả vùng Thung Lũng Indus. Vương quốc này tạo dựng một kỳ tích ở thế kỷ thứ 4SCN: bệnh viện, đại học, đời sống sung túc, thành phố xinh đẹp. Đây là thời kỳ vàng son của Ấn Độ, với những khám phá toán, khoa học, thiên văn, triết học, tôn giáo. Từ vua đến dân đều mộ đạo Phật.

(Chú thích: Bộ “Kinh Kamasutra” được soạn dưới thời Gupta, thường được hiểu lầm chỉ thiên về tình dục, thật ra là loại sách dạy nghệ thuật làm bực vương giả. Những hình vẽ sắc rực rỡ nghiêng về màu nóng, y phục nữ trang của quí tộc. Đàn ông da trắng, râu quai nón, mũi cao, oai vệ như con công xòe cánh. Đàn bà ngực mịn như đồi cát, tay cong như rắn cuốn, bước chân như hoa sen trên sóng)

Nghệ sĩ Gupta sính dùng stucco tạc tượng Phật. Thời Gupta dài hơn 200 năm đuọc coi như thời đại hoàng kim cuả xứ Ấn Độ và của nghệ thuật điêu khắc.

Dẫy tu viện Ajanta là những công trình làm ngẩn ngơ lòng người, không hiểu nghệ sĩ ngày xưa làm sao có thể tạc những kỳ công đến thế. Tượng Phật, Hindu, và Jain rất lón bằng đá, đồng hay đất nung.

Từ TK thứ 8, dù vương quyền đã sang tay triều đại Pala và Sena (730–1197) thiên về tôn giáo Hindu, phong cách Gupta vẫn được lưu giữ. Thời kỳ này, tượng Phật được tạc bằng đồng và đá đen từ Nalanda, hoa văn rất chi tiết.

Nghệ sĩ Gupta vẫn giữ phong cách Mathura với vài biến cải.Tượng Phật có những đặc điểm trước và sau chưa từng có: khuôn mặt dài, nụ cười diụ dàng, bỏ hẳn tóc quăn dài chỉ cho tóc soắn ốc, cánh tay và ngón tay thon dài hơn duy vẫn giữ trái tai dài. Áo trong suốt như lụa ướt. Cũng từ Gupta, nghệ sĩ cho Phật đường cong tròn trịa, thân hình nhỏ nhắn, mặt tươi tỉnh không có vẻ đe doạ của các vị thánh thần giáng cả phước lẫn hoạ. Nghệ sĩ vô danh lưu lại pho tượng có giá trị ngàn năm không chỉ lắng nghe lời Phật, còn lặng lẽ hóa thân trong trăm ngàn nỗi đau đớn lẫn hạnh phúc của kiếp người mới có thể tạc được bức tượng kế bên: êm nhưng không thảm, vẻ dịu dàng như nước mắt ni cô nhỏ xuống trang kinh. Nghệ sĩ và Phật có vẻ thấu nỗi niềm nhau, bàn tay tài hoa cho đôi mắt Phật khép như chẳng biết gì dù thấy hết cả hạnh phúc đạm bạc lẫn sân hận tràn trề cõi nhân gian. Lời khuyên của Phật trước sau vẫn thế nhưng vẻ dịu dàng của tượng Phật khiến nhân gian mủi lòng rộn ràng nghiêng đổ xuống bao xiết gánh sầu.

Pho tượng Sultanganj đi lạc

Bức tượng cực hiếm Sultanganj Buddha, cao 2.3m, bề ngang 1m, nặng 500 kg, bằng đồng đổ khuôn, phong cách Gupta, áo Phật rất mỏng như in vào người, có niên đại từ thế kỷ thứ 5 đến thứ 7. Tay phải giơ lên “Đừng Sợ”, tay trái ngửa dấu hiệu Phật đang ân cần lắng nghe tiếng thở than.

Pho tượng được các tăng nhân Phật giáo chôn dấu không cho lọt vào tay các phần tử quá khích mới nổi theo đạo Muslim, vào những năm 700STC. 1200 năm sau, năm 1862 ở tỉnh Sultanganj, Bắc Ấn Độ. Kỹ sư E. B. Harris, người Anh, thuộc công ty East Indian Railway, cho đào đất sâu tới 10m đặt đường rầy xe lửa. Thình lình ông nhận ra một khối đá cứng hơn đất chung quanh. Cẩn thận ông dò từng chút cho đến khi khuôn mặt bình thản của pho tượng lộ ra. Đồng nghiệp khuyên nên bỏ pho tượng trở lại hố đất. Trong một sát na định mệnh, ông Samuel Thornton, một thương gia ngươì Anh nghe tin tức tốc đến tận nơi, trả giá 200 bảng Anh. Sau đó, Samuel Thornton trở thành thị trưỏng Birmingham/London. Năm 1867, ông di chúc tặng hết di sản cho Birmingham Museum and Art Gallery. Bức tượng hiện vẫn ở đó, cách xa quê mẹ nửa vòng trái đất.

Pho tượng Óc Eo (thuộc tỉnh Tiền Giang)

Nhân pho tượng Sultanganj, tượng cổ Óc Eo có thể nói lên đôi điều về lịch sử miền Nam VN, chỉ hơi tiếc…

Năm 1913, người Pháp làm đường, dân chúng đào sâu 2m tìm được một pho tượng bốn tay có rắn Naga 7 đầu làm tán che, cao 1.7 m, gần chợ Ba Thê, nay thuộc tỉnh Tiền Giang. Ngườì Khmer địa phương cho khiêng lên núi để thờ. Cũng tìm được hai tấm bia làm bằng đá bùn/mudstone (4), kích thước 1,80m x 0.22m có khắc chữ cổ, mà các học giả cho là có thể của dân tộc Phù Nam. Cả hai cổ vật được định tưổi từ TK thứ II đến thứ VI SCN.

Ban đầu, tượng có màu đen của loại đá cổ (?) Sau khi khai quật, tượng bị đắp thêm phần chân, tượng và đầu rắn Naga còn bị sơn màu đỏ chói loè loẹt. Còn hai tấm bia “Lo sợ bị đánh cắp, nên người ta cho ốp dính hai tấm bia vào bệ thờ, nên chẳng hiểu mặt bia bị ốp, có chữ nghĩa hay hình ảnh gì nữa không” (7). Có lẽ những nhà khảo cổ chỉ đành thở dài nhai râu mà khóc. Ai thương hoa tiếc ngọc thấy lòng mềm như sợi dây đàn bỏ quên.

Nếu là tượng Phật được thần rắn 7 đầu Naga che mưa khi đang ngồi thiền, thì Phật chỉ có hai tay. Chữ trên bia, có thể là chữ Sankrit, Pali, Hy Lạp, Brahmi, Parthhian, hay Kushans…do những tăng lữ và thương nhân Bà La Môn hay Phật giáo mang tới vương quốc Phù Nam từ thế kỷ thứ 2 đến thứ 6. Hơi tiếc, tài liệu tiếng Việt ít lưu ý đến địa lý/lịch sử/sắc tộc, thường chỉ đơn giản “người Ấn Độ” nên khó truy tầm.

Nếu không sơn phết, các chuyên viên có thể đoán được đá địa phương hay đá vùng nào bên xứ Ấn Độ. Núi Sập và núi Ba Thê có loại đá cẩm thạch (marble) có thể dùng tạc tượng. Loại đá này có nguồn gốc là đá vôi/limestone (4), sau quá trình biến chất vài triệu năm trở thành “đá biến chất/metamorphic rock”. Đá biến chất có chứa nhiều hình thể kiến trúc rất đẹp, được gọi nhiều tên khác nhau tuỳ theo bề ngoài hay mầu sắc: đá vôi, đá hoa, đá cẩm thạch. Đá cẩm thạch trắng dùng tạc tượng ở vùng Ngũ Hành Sơn nổỉ tiếng ở miền Trung VN có cấu trúc tương tự.

Hiện nay tượng và bia đá để ở chùa Linh Sơn, núi Ba Thê nơi được Louis Malleret đặt tên mới là Óc Eo năm 1942 sau khi tìm thấy nhiều di chỉ về “vương quốc Phù Nam”. Năm 1988, Bộ Văn hóa công nhận là di tích nghệ thuật kiến trúc, dù vẻ cổ kính lịch sử đã mất. Pho tượng nếu giữ nguyên, là một kho tàng vô giá của lịch sử Nam VN và góp phần làm giàu cho tri thức thế giới vốn khá nghèo nàn về lịch sử một thời vang bóng của đồng bằng Cửu Long. Vai trò/ý kiến của giới chuyên môn (khảo cổ/địa chất/ngôn ngữ… ) nếu được tôn trọng hơn có thể tránh đáng tiếc tương tự.

Đền Thendayuthapani Hindu tại Saigon

Ở Saigon, từ khoảng nửa TK 19 đến đầu TK 20, cộng đồng người Ấn Độ rất lớn. Họ đến Saigon ồ ạt sau khi người Pháp chiếm Đông Dương từ 1862. Đa số là người Tamil từ miền Malabar và Pondichery, vùng duyên hải phía Nam Ấn Độ, thuộc địa của Pháp thời đó. Cũng có cả người Shiks.

Người Ấn ở Saigon theo Hindu và Muslim. Họ làm tài xế, cảnh sát, buôn bán vải vóc, tiệm cầm đồ, đổi ngoại tệ. Người Pháp gọi xe ngựa do người Ấn và người Chămpa điều khiển là Malabar. Đa số người Ấn sống ở Chợ Cũ. Một số lớn cửa hàng và khu dân cu tập trung ở đường Rue Ohier (Tôn Thất Thiệp) rải rác phía bên kia đường Charner (Nguyễn Huệ) và đường Catinat (Đồng Khởi), đường Amiral Dupré (Đông Du). Trên đường Amiral Dupré, một đền thờ Hồi giáo vẫn còn sinh hoạt cho tới nay. Sau 1975, số lượng người Ấn Độ giảm trầm trọng

Đền Thendayuthapani tĩnh lặng và rất êm đềm ngay tại trung tâm Saigon, số 66 đường Tôn Thất Thiệp, góc đường Pasteur. Thần Thendayathapani, còn có tên Muruga. Ngườì Tamil ở Nam Ấn Độ, Singapore, Sri Lanka, Malaysia và Mauritius thờ phượng không chỉ vì thần ban sự giàu sang và hạnh phúc, mà còn vì thần đại diện cho nhan sắc, tình yêu và đức hạnh.

Trong đền có một cỗ xe ngựa trang hoàng rực rỡ. Những hình ảnh lưu giữ đầu thế kỷ 20 ở Saigon, ngày lễ Festival of Light, tượng nữ thần Meenakshi có các nam thần hầu cận, dung nhan sáng rỡ y trang diễm lệ, ngự trên cỗ xe ngựa kết hoa đèn. Đám rước này có thể sánh với đám rước tương tự ở Malaysia và Singapore. Đám rước nguyên thủy ở Ấn Độ luôn ở gần hồ nước, cỗ xe được thả xuống hồ bồng bềnh trôi giữa lung linh ánh nến réo rắt thánh ca.

Đền có cả tượng Phật và tượng thần Hindu, niên đại cuối thế kỷ 19-giữa TK 20. Trên tường treo di ảnh của Mahatma Gandhi, người bền bỉ tranh đấu bất bạo động dành độc lập cho Ấn Độ từ tay người Anh năm 1947. Gần bên, chân dung nhà thơ Tagore, người trải thơ từ đỉnh Himalaya xuôi xuống sông Indus sông Hằng. Có lẽ ảnh hưỏng Hindu “Hãy yêu trần gian điên dại này cho đến chết”, Tagore viết, “Let your life lightly dance on the edges of time like dew on the tip of a leaf.” Chữ nghĩa thi sĩ ai hiểu sao cũng được “Dù nghiêng ngả cuộc đời vẫn đẹp. Hãy nhảy múa bên lề thời gian và yêu đến giọt cuối cùng trước khi rơi xuống như nụ sương mai trên lá rồi sẽ tan biến dưới ánh mặt trời”.

Ngôi đền Hindu đột khởi giữa lòng Saigon, xanh màu đá turquoise tươi sáng của xứ Ngàn Lẻ Một Đêm. Tuy tài chánh không còn được như xưa vẫn giữ được nét đẹp huyền bí trang nghiêm. Khách viếng thăm đa số là du khách.

Saigon thật sự là một thành phố quốc tế không kém HongKong và Singapore. Saigon giờ đây phát triển thật nhanh, huy hoàng mới được xây cất trên những huy hoàng cũ. Nếu đôi khi đạp đổ pho tượng, cũng cần phải giữ laị cái bệ thờ, điều này đã không xảy ra ở Saigon năm 2011.

* * *

Thế giới, “Hằng Hà sa số/nhiều như cát sông Hằng” văn minh/vương quốc rực rỡ rồi tàn lụi. Duy chỉ những nghệ sĩ vô danh, những tiểu vũ trụ đưa tay hứng lấy thiên tài của mình, mới lưu cho đời một kho tàng hơn hết thẩy sự vương giả giàu sang trên trái đất.

Vẻ đẹp của những pho tượng ngồi đó ngàn năm – không trách không phiền không hăm không doạ không hứa không hẹn không họa không phúc không ghét không yêu – phải chăng là sự im lặng tuyệt đối, mặc cho nhân gian hoang tưởng tô vẽ ngàn điều huyền bí, mặc cho nhân gian yếu đuối vay mượn đôi chút vỗ về trước khi gượng đứng dậy tự mang lấy gánh nặng ngàn cân?

 Trần Thị Vĩnh-Tường Nguyễn Đức Hiệp

(Mùa xuân 2011)

———————————————–

Chú thích:

(1) Khuynh hướng hiện nay không dùng BC/Before Christ/Trước Thiên Chúa và AD/Anno Domini/Sau Thiên Chúa nữa. Thay vào đó, dùng BCE/Before the Common Era/Trước Công Nguyên và CE/Common Era/Sau Công Nguyên, dựa trên lịch đang dùng.

(2) http://www.jattworld.com/online/birds-eye-view-of-jatt-history  

(3) Nguyễn Đức Hiệp – Hoàng Đế Ashoka Đã Sống Lại Như Thế Nào? 08/2008.

http://vietsciences.org/timhieu/lichsu-khaoco/hoangde-ashoka.htm

(4) Có vài loại đá nhắc tới trong bài này:

a. Sedimentary rock/đá trầm tích. Loại đá thành hình do bề mặt của trái đất bị gió hay nước mưa ăn mòn và mang những chất lắng đọng xuống đáy sông đáy biển hay những vùng trũng. Những chất trầm lắng tự sàng lọc thành những lớp (bedding) có cùng độ hạt kết dính với nhau bằng những chất mịn hơn, lâu ngày trở thành đá. Những đá sau đây đều thưộc đá trầm tích:

-Đá cát/Sa thạch/Sandstone có độ cứng là 6.5 đến 7 – so với kim cương là 10 – cứng nếu chất kết dính là silic, hay mềm hơn nếu là đất sét. Gọi là sandstone: đá cát, vì độ hạt bằng hạt cát, tức khoảng 1.16mm đến 2mm.

-Đá bùn/Mudstone: kết tinh từ đất sét hay bùn, hạt rất mịn, chỉ từ 0.0625 mm, mắt thường không nhìn thấy.

– Đá vôi/Limestone. Hiếm hơn sandstone, nhiều công dụng hơn, đắt hơn các sedimentary rock khác, độ hạt thay đổi tuỳ loại.

b. Metamorphic rock: đá biến chất. Trong quá trình vỏ trái đất biến đổi do sức đẩy từ bên dưới lòng đất và sức nặng của vật liệu bên trên cung cấp nhiệt độ và áp suất tạo thành đá biến chất. Đá biến chất có nhiều loại tùy thưộc vào loại đá nguyên thuỷ. Thí dụ đá cẩm thạch biến chất từ đá vôi, đá mắt mèo biến chất từ đá magma (hay granite). Shist là đá biến chất, có chứa nhiều mica, gồm nhiều lớp chồng lên nhau

(5) Basilov, Vladimir – Nomads of Eurasia, Natural History Museum of Los Angeles County and University of Washington Press, California 1989

(6) Rej, Anup – The Royal Norwegian Embassy, Bangkok – Scythians and Sarmatians, Migration of the Aryan Tribes. http://www.worldmultimedia.biz/Culture/yuechih%20sakas%20kushans.pdf

(7) http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%B9a_Linh_S%C6%A1n_%28Ba_Th%C3%AA%29  


 Xin cảm ơn độc giả Phạm Anh Thư để dạ quan hoài, bổ túc timeline hành trình điêu khắc Phật giáo

©          http://vietsciences.free.fr  và http://vietsciences.org