RYOKAN TAIGU

 

(1758 – 1831)

Ryokan ra đời trong năm 1758 (ngày chính xác không rõ), tại ngôi làng hẻo lánh ven biển Izumozaki, thuộc tỉnh Echigo, bây giờ gọi là Quận Niigatạ Vùng này, Honshu phương bắc, còn được gọi là “xứ tuyết,” nơi các trận tuyết mùa đông dày ngập tới nổi buộc cư dân phải rời nhà và vào lại nhà họ bằng tầng [lầu] thứ nhì. Quận cũng khét tiếng về một số trận động đất tệ hại nhất trong lịch sử Nhật Bản, và nổi tiếng với hòn đảo Sado dễ thương, nơi lưu đày loạn quân và là nơi có những mỏ vàng được các tướng quân khai thác. Cha của Ryokan, Inan (1738—95), là người được kế thừa cha truyền con nối làm trưởng làng, và là một tu sĩ Thần Đạo. Inan cũng là một nhà thơ mà vài người ghi nhận là có liên hệ xa với trường phái thơ hài cú Bashọ Dưới đây là một bài của ông: 

Liên tục cứ biến đổi, 

Các đám mây hè lên lười biếng, 

Cao trên các ngọn đồi. 

Không có mấy thông tin về mẹ của Ryokan, chỉ biết bà ra đời trên đảo Sado, nhưng từ những gì chúng ta có thể ghi nhận từ thơ của Ryokan thì bà như dường là một người dịu dàng và yêu thương: 

Trong các giấc mơ của tôi 

Hình dạng của mẹ hiện ra 

Ban sáng và ban đêm, 

Trong sương mù xa vây phu? 

Các bờ của đảo Sado. 

Tên thời thơ ấu của Ryokan là Eizọ Một cậu bé lặng lẽ, siêng năng, yêu thích sách, cậu ghi danh ở một trường Khổng Giáo khoảng năm lên mười, và nơi đó được nền học vấn căn bản của sách thánh hiền Trung Quốc và Nhật Bản. Nhiều năm sau, Ryokan thăm nấm mộ của vị thầy đầu tiên là Omori Shiyo (chết năm 1791), và làm bài thơ cảm động này để tưởng niệm: 

Một nấm mộ cũ nằm ẩn dưới chân đồi hoang vắng, 

Tràn ngập bởi cỏ rậm năm này qua năm kia; 

Không còn ai để chăm sóc ngôi mộ, 

Và chỉ một bác tiều phu thỉnh thoảng đi ngang. 

Một thời con là học trò của thầy, cậu bé có tóc tua tủa, 

Học thâm sâu từ thầy bên Dòng Sông hẹp. 

Một sáng, con khởi hành trên chuyến đi cô đơn 

Và nhiều năm trôi qua lặng lẽ giữa thầy trò. 

Bây giờ con về, thầy đã an nghỉ nơi đây. 

Làm sao con tưởng niệm hương linh thầy? 

Con rưới chút nước trong lên trên bia mộ thầy 

Và dâng thầy một bài kinh im lặng. 

Mặt trời đột nhiên lặn sau ngọn đồi, 

Và con bị vây bọc bởi gió bạt từ rừng thông. 

Con tìm cách tự kéo mình ra nhưng không thể; 

Một dòng thác nước mắt ướt đẫm các tay áo con. 

Dưới hướng dẫn của Shiyo, Ryokan đã có một đam mê cả đời kinh điển Khổng Giáo. Thường thì mẹ cậu gửi cậu ra khỏi nhà để dự vài lễ hội của làng, chỉ để lại thấy sau đó cậu bé ngồi thu mình dưới một trụ đèn đá trong vườn và đọc cuốn Luận Ngữ. (Khi Ryokan lớn hơn, cậu mô tả về vị thầy Trung Hoa [Khổng Tử] không phải như một mẫu mực của tính chính thống và là cái hành thiện ngột ngạt, nhưng như là một người, khiêm tốn và nồng ấm và độc lập, đi tìm sự thật, người đã bị các người đương thời gọi một cách bất công là mơ tưởng thiếu thực dụng!) Khi còn trẻ, Ryokan hầu như vui hưởng các cuộc đi bộ cô đơn dọc theo bờ biển, phía hướng ra Biển Nhật Bản đầy sóng bão, hay là mơ tưởng lặng lẽ dưới một gốc thông già trong vườn nhà. Ngay từ khi còn bé, cậu không bao giờ nói dối hay cãi nhau với các cậu bé khác. 

Người cha thất thường và xốc nổi Inan mong muốn chuyển giao nghề trưởng làng cho cậu con trai cả ngay khi nào Ryokan tới tuổi trưởng thành. Không may, với nhiều lý do khác nhau, chàng thanh niên Ryokan 17 tuổi lại không thích hợp với việc đó. Bản chất lương thiện và hoà giải, chàng không ưa tranh chấp dù là kiểu nào; cực kỳ ngây thơ, chàng không thể hiểu được vì sao những người khác lại không nhiệt tình như mình. Sau khi trải qua một khủng hoảng tâm linh, chàng quyết định rời nhà và trở thành một nhà sư. 

Nhiều giải thích khác nhau đưa ra cho hành vi quyết định này: Ryokan nhận thấy là chàng thiếu cái xảo quyệt cần thiết của một lãnh tụ chính trị; chàng chấn động bởi cuộc xử tử hình đẫm máu một dân làng bị kết trọng tội (người trưởng làng phải làm nhân chứng chính thức trong các buổi xử tử như thế); chàng đột nhiên thấy ánh sáng sau một đợt vui chơi phóng đãng. 

Khi còn thanh niên, con mọt sách Ryokan có vẻ như có thời gian ngắn trở thành một Don Juan – “các dân làng nói về chàng, “Khi thằng đó lảng vảng, nhớ phải cảnh giác mấy đứa con gái của mình.” Theo một chuyện kể, Ryokan một lần trong một bữa tiệc với cô kỹ nữ chàng ưa thích. Tiệc càng vào đêm, nhưng chàng càng lúc càng sầu muộn. Cô tình nhân tìm mọi cách làm chàng vui, nhưng không gì có thể xua đi nỗi buồn tràn ngập của chàng. Sau khi xài tiết tiền, chàng về nhà trong tuyệt vọng sâu thẳm. 

Sáng hôm sau, gia đình thấy chàng có chiếc đầu cạo trọc và quấn mình trong bộ áo kimono trắng. Không nói nhiều, chàng tới ngay ngôi chùa gần đó để xin đi tụ Trên đường, chàng tình cờ gặp nàng kỹ nữ, và cô nài nỉ chàng xét lại. Ryokan vẫn im lặng và vẫn kiên quyết hướng mình chọn. 

Sự thật, nhiều phần là chính sự kết hợp các yếu tố trên đã dẫn Ryokan vào chùa. Cũng vậy, với nếp văn hóa trưởng thành của chàng – nhiều người khác trong gia đình của chàng cũng đã xuất gia vào chùa – thì không ngạc nhiên gì khi chàng đi tìm niềm vui trong tôn giáo. Chức trưởng làng mới truyền cho em của Ryokan là Yoshiyuki (1762—1834), người lại trở thành hành chánh trưởng quan tệ hại nhất có thể có, và rồi phung phí hết tài sản của gia đình. 

Ryokan làm sa di ở Kosho-ji, ngôi chùa Thiền Tào Động địa phương, trong nhiều năm. Khoảng năm 1780, thiền sư Kokusen (viên tịch 1791) viếng thăm Kosho-ji, và Ryokan, người cảm xúc thâm sâu vì cách sống nghiêm túc và chân thật của vị thầy, mới xin và được phép để chính thức trở thành môn đệ của Kokusen. Sau đó, họ cùng nhau trở về chùa Entsu-ji, ngôi tự viện của Kokusen tại Tamashima (bây giờ là Quận Okayama). 

Chùa Entsu-ji chỉ nhỏ thôi, dễ thương, gồm một hồ sen và rừng tre đẹp, nằm trên một ngọn đồi nhìn ra hải cảng Tamashimạ (Hầu hết các khu nhà từ thời Ryokan bây giờ vẫn còn.) Tamashima là một trung tâm giao thương thịnh vượng, và chùa Entsu-ji đã lớn dậy dưới hướng dẫn của Kokusen, không bao giờ dưới 40 sư đang tu học. Cũng như vị thầy Kaso của Ikkyu, và vị thầy Shoju của Hakuin, Kokusen là một vị thầy có lối dạy cụ thể, người tuyên bố kiều Thiền của mình gồm cả việc “khiêng đá và đổ đất.” Nghĩa là, tu Thiền phải thực hiện ngay giữa các việc làm hàng ngày trong đời thường. 

Một trong những vị trong chúng mà Ryokan ưa thích là Senkei, một vị sư hiện thân cho giáo pháp của Kokusen. 

Sư Senkei, người chân thực của Đạo! 

Sư làm việc trong lặng lẽ—không lời dư thừa nào cho sư. 

Trong 30 năm, sư trong chúng của thầy Kokusen. 

Sư không bao giờ tọa thiền, không bao giờ đọc kinh, 

Không bao giờ nói một chữ về đạo Phật— 

Chỉ làm việc cho lợi ích của nhất thiết chúng. 

Tôi đã thấy sư, nhưng không thực sự thấy sư; 

Tôi đã gặp sư, nhưng không thực sự gặp sư. 

A ha, sư không ai có thể bắt chước được, 

Sư Senkei, người chân thực của Đạo! 

Ryokan trong 10 năm sau đó tại chùa Entsu-ji đã tận hiến cho tu tập Thiền, và học sâu thêm về cổ thư Trung Hoa, kinh Phật, thi ca, và thư pháp. Sau đó trong đời, Ryokan gợi lại những năm ở Entsu-ji trong các bài thơ sau: 

Nơi chùa Entsu-ji ngày xưa đó— 

Bao nhiêu lần đông đi xuân tới? 

Vượt qua cổng một ngàn ngôi nhà 

Nhưng không hề một người quen. 

Khi áo bẩn, ta giặt áo; 

Khi hết gạo, chúng ta ra phố khất thực. 

Ta suy ngẫm về đời các sư siêu quần 

Và hiểu được lời các sư ngợi ca cái nghèo bậc thánh. 

Nghĩ lại, ta nhớ những ngày ở Entsu-ji 

Và cuộc chiến đơn độc truy tầm Đạo. 

Vác củi làm ta nhớ tới Cư Sĩ Ho; 

Khi ta giã gạo, lại nhớ Lục Tổ. 

Ta luôn luôn ở hàng đầu để nghe lời dạy của thầy, 

Và không bao giờ bỏ qua một giờ tọa thiền. 

Ba mươi năm bay vèo qua 

Từ khi ta rời các ngọn đồi lam và biển xanh của nơi yêu thương đó. 

Các bạn đồng môn cũ của ta bây giờ ra sao? 

Và làm sao ta có thể quên từ tâm của thầy kính yêu? 

Nước mắt tuôn xuống không thôi, hòa lẫn với thác nước. 

Cũng có vài giây phút nhẹ nhàng tại Entsu-ji cho Ryokan: 

Những ngày hè dài tại Entsu-ji! 

Nhất thiết đều tươi mới và thanh tịnh. 

Cảm xúc thế tục không bao giờ thấy nơi đây. 

Trong bóng mát, ngồi đọc thơ, vẻ đẹp vây chung quanh, 

Ta chịu đựng hơi nóng bằng cách lắng nghe 

Tiếng bánh xe nước quay làm mát. 

Trên ngọn đồi, sau Entsu-ji, chúng ta vào ẩn trong rừng, 

Thoát khỏi hơi nóng, và uống sake để thư giãn. 

Chúng ta nốc hết hũ rượu và làm vài bài thơ. 

Không bị bỏ quên, chúng ta ngồi hạnh phúc tới khi có chuông gọi vào. 

Trong khi ở tại Entsu-ji, Ryokan say mê các bài viết của Dogen (1200—53; Việt: Đạo Nguyên), sơ tổ của Thiền Tào Động tại Nhật Bản. Sư đặc biệt ưa thích Dogen với Tứ Đại Công Đức: Từ Thiện, Lời Tử Tế, Việc Tốt và Đồng Cảm. Ryokan áp dụng tứ đại công đức này trong cách cụ thể, như chúng ta thấy trong chuyện sau. Vào những ngày đó, bọn cướp thường giả trang làm các vị sư, và chàng Ryokan trang phục rách rưới đã bị các quan lại đa nghi bắt giam nhiều lần khi đi khất thực. Gợi nhớ tới chuyện Hakuin và em bé sơ sanh, Ryokan cũng không nói gì biện hộ ngay cả khi bị đe dọa đánh đập. Và lần nào cũng vậy, lời tử tế của sư, phong thái bình an và bất bạo động của sư đã chiến thắng, và sư được thả ra an ổn. 

Năm 1790, khi 32 tuổi, Ryokan được bổ nhiệm làm thủ chúng tu viện này, và được trao tặng một inka (chứng nhận giác ngộ). Không giống như các kinh nghiệm ngộ đạo căng thẳng, gần như gay cấn, của Ikkyu và Hakuin, Ryokan hiển nhiên không có bất kỳ bước nhảy quyết liệt đơn độc nào; thay vào đó, sự giác ngộ của sư đơn giản là sự nở hoa tự nhiên phù hợp truyền thống Thiền Tào Động của “chỉ ngồi như Phật thôi” và “tu chứng nhất nhự”

Lúc đầu khi thọ giới, sư được đặt tên là “Ryokan Taigụ” Chữ “Ryo” có nghĩa là “tốt lành, thiện” và “kan” nghĩa là “quảng đại” trong nghĩa rộng lượng và đại bị Còn chữ “Taigu” nghĩa là “Đại Ngu,” chỉ vào tính thơ ngây trẻ dại và thiếu vắng cái giả hình. Kokusen gợi tới các phẩm chất này trong tờ inka trao cho môn đệ hàng đầu của thầy. 

Ryo trông ngu ngơ, nhưng đã đi qua Đại Đạo; 

Không ngăn ngại, ai có thể hiểu thấu sư? 

Ta trao chứng nhận này cùng với một cây gậy làm bằng gỗ trên núi; 

Bất cứ nơi đâu lang thang, sư sẽ vẫn giữ được sự bình an thành tựu giữa các bức tường này. 

Bản văn này là tài sản trân quý nhất của Ryokan, và sư giữ nó bên mình cho tới cuối đời. 

Kokusen viên tịch năm sau đó, và Ryokan rời Entsu-ji để đi chuyến du phương dài, lang thang với mây và trôi với nước. Ryokan như dường hầu hết là ghé vào các miền quê trong suốt thời kỳ năm năm, ngủ trên các cánh đồng hay ngả lưng trong các căn lều dã chiến, và tránh các trung tâm đô thị và tu viện lớn. Tuy nhiên, sư có tìm Thiền sư Shuryu tại chùa Daitoku-ji, ngôi bản tự của Ikkyu. 

Khi Ryokan tới cổng chùa Daitoku-ji, sư bị đẩy ra lạnh lùng, nghe nói rằng Shuryu bây giờ đang sống hưu dưỡng và không muốn gặp ai. Không nản, Ryokan lẻn vào trong sân chùa, nhảy qua bức tường khổng lồ, và chờ bên ngoài nơi ẩn tu của sư trụ trì. Rồi Ryokan để một lá thư gửi cho Shuryu, dằn cục đá lên, để bên cái chậu nước rửa tay bằng đá, hy vọng sư trụ trì sẽ thấy nó khi ngài bước ra cho khóa công phu sáng sớm. Vài vị sư có bắt gặp Ryokan, nhưng khi họ tới đuổi sư ra thì ngài Shuryu xuất hiện, đọc lời cầu xin chân thành của Ryokan, và nói sư cứ tới thăm bất cứ khi nào sư thích. Ryokan sau đó kể lại cho các bạn rằng sư đã hưởng lợi ích rất nhiều từ cách dạy Thiền kiểu Lâm Tế của Shuryu. 

Câu chuyện khác duy nhất mà chúng ta có về cuộc lang thang của Ryokan là lời của Kondo Manjo (chết năm 1848), người gặp sư ở Shikoku ở phía nam. 

Khi tôi bước vào đầu các năm hai mươi tuổi, tôi du hành tới quận Tosạ Vào một đêm, tôi gặp mưa bão lớn, và vì lúc đó khá xa thị trấn, tôi mới trú vào một túp lều nhỏ đơn độc bên đường. Một nhà sư trang phục rách rưới đang ngụ trong đó mời tôi vào, với lời xin lỗi rằng không có gì để ăn, cũng không có giường nằm gì cả. Sau cuộc nói chuyện ban đầu, vị kia không nói gì nữa chỉ trừ ngồi lặng lẽ trong tư thế thiền tọa. Tôi nghĩ rằng vị đó trong đầu có một chút suy yếu. 

Tôi ngủ, và sáng hôm sau vị đó chia phần cháo nhỏ với tôi. Những gì duy nhất trong lều là một tượng Phật nhỏ, một bàn nhỏ và hai quyển sách. Cuốn tôi cầm lên là ấn bản đời Đường tác phẩm của Trang Tử; bên trong là bản viết các bài thơ bởi vị ẩn tu này trong nét chữ thảo tuyệt đẹp. Tôi mới nhận ra rằng đây không phải một vị sư bình thường. Tôi mới xin sư đề chữ vào hai chiếc quạt trống tôi mang theo mình. Trên một chiếc, sư vẽ hoa đào nở, và trên chiếc khác sư vẽ Núi Phú Sĩ. Sư ký tên vào chúng là “Ryokan, sinh quán Echigọ” Vị sư từ chối lấy tiền, nhưng vui vẻ nhận lấy một số giấy thư pháp. 

Mẹ của Ryokan đã từ trần trong khi sư ở tại chùa Entsu-ji, và cha của sư, vẫn cứ xốc nổi và nóng nảy, rời nhà và tới ngụ Ở Kyoto, nơi một trong những người em trai của Ryokan thành danh là một học giả. Nơi đó, vào năm 1795, ông Inan đã kết thúc cuộc đời rắc rối của ông bằng cách tự trầm trong Sông Katsurạ Đau buồn trước tin về cái chết bi thảm của cha, Ryokan đi tới Kyoto để làm lễ cầu siêu cho cha, và rồi đi hành hương tới ngọn núi linh thiêng Koya để cầu nguyện cho hương linh của cả cha mẹ được an lành. 

Tại Kyoto, Ryokan nhận được bản viết các bài thơ cuối cùng của cha và rồi viết: 

Các tờ chép thơ 

Của cha ta trở thành 

Nhòa đi với nước mắt ta 

Như ta gợi nhớ 

Những thời bên nhau xưa thật xưa. 

Với cương vị người nối pháp của Kokusen, một trong những vị Thiền sư Tào Động lớn nhất lúc đó, Ryokan có thể dễ dàng giữ chức trụ trì một chùa lớn, nhưng những năm tự nguyện sống khó nghèo và tự do trên các cánh đồng đã làm cho sư không thích bị ràng buộc với gánh nặng ngôi chùa. Thêm nữa, có sự kình chống nhau kịch liệt giữa các phe chùa Eihei-ji và chùa Soji-ji của Thiền Tào Động, và với tư cách trụ trì Ryokan sẽ phải bị lôi kéo vào tranh chấp. 

Không kế hoạch cụ thể nào trong đầu, Ryokan năm 40 tuổi về lại nơi mình ra đời, dọc đường vui với những nơi có cảnh đẹp và các nơi linh thiêng của Nhật Bản. Khi Ryokan cuối cùng về tới Echigo, sư ghi lại trong hai bài thơ sau: 

Ta đã về lại ngôi làng cũ, và 

Ngả bệnh, ta nghỉ nơi một lữ quán địa phương. 

Ta lắng nghe tiếng mưa— 

Một y, một bát là những gì ta có. 

Mạnh hơn một chút, ta nhấc tấm thân yếu này, 

Dậy thắp hương, và ngồi thiền tọa; 

Cả đêm, mưa rơi buồn bã 

Như ta mơ về chuyến hành hương dài của các năm qua. 

Từ xưa rồi, ta bỏ thế gian để tìm chân sư, 

Về lại ngôi làng xưa sau hai mươi năm, 

Tài sản duy nhất chỉ một y, một bát. 

Ta hỏi về các bạn cũ— 

Hầu hết đã trở thành tên khắc trên bia mộ phủ rêu. 

Một hôm, một vị sư sương gió tả tơi bước tới Gomoto, một ngôi làng khoảng 10 dặm phía bắc Izumozakị Sư được phép vào cư ngụ Ở một túp lều đổ nát và chẳng bao lâu đã trở thành hình ảnh thường thấy quanh thị trấn. Khi sư nhận lãnh nhiều lương thực hơn mức cần trong một ngày, sư đem chia bớt cho chim ***c và thú vật. Dân địa phương nhanh ***ng cảm phục sư và bắt đầu cúng dường sư y áo và lương thực, nhưng vị sư vẫn chia những gì nhận lãnh cho những người ăn mày tệ hại hơn sự Nhiều dân làng thấy sư mang máng quen thuộc, nên một người mới tới thăm sự Túp lều thì trống trơn, chỉ trừ vài bài thơ nét chữ tuyệt đẹp treo trên vách. Người này mới tìm cách thông báo cho gia đình của Ryokan rằng người anh cả đi từ lâu rồi bây giờ đã về lại quê nhà. Tuy nhiên, Ryokan từ chối về lại nơi sinh, và gửi lại hầu hết phẩm vật mà gia đình sư gửi tới. 

Ryokan sống trong nhiều nơi ẩn cư gần đó, trước khi cuối cùng về ngụ tại am viện Gogo-an, một tự viện được xây kiên cố nhưng cô lập trong một khu rừng dầy đặc các cây tùng và thông già phía sau chùa Kokujo-ji trên Núi Kugamị Tên của nơi ẩn tu này có nghĩa “năm chén,” tức là số lượng gạo nhận mỗi ngày bởi vị cựu trụ trì Chân Ngôn Tông của chùa Kokujo-ji, người đã ra lệnh xây am Gogo-an để ngài lui về hưu dưỡng. 

Ryokan sống tại Gogo-an từ năm 1797 tới 1802, và từ 1804 tới 1816. (Giữa các năm 1802 và 1804, một vị trụ trì về hưu của chùa Kokujo-ji đã dùng nơi cư trú đó, và trong thời kỳ này Ryokan cư trú tại các ngôi chùa Chân Ngôn Tông khác trong vùng.) Ryokan tự sống như người ẩn tu, nhưng không phải kiểu tự ly cách hoàn toàn với con người. Ryokan hy vọng học theo Đức Phật, người đã có thể qua lại tự tại giữa các cõi thánh và cõi phàm: 

Đây là Con Đường mà Ngài đã đi để giải thoát thế giới; 

Đây là Con Đường mà Ngài đã đi để về lại thế giới. 

Cũng thế, con tới và đi theo Thánh Đạo 

Bắc cầu ngang bờ Sinh và Tử, và vượt qua mê vọng. 

Là một ẩn tu, Ryokan ngồi trên thiền sàng và sống nhiều phần hệt như các vị tổ sư Thiền xa xưa, tìm giác ngộ sâu trong các rặng núi: 

Trong vắng lặng, bên cửa sổ trống 

Ta ngồi thiền tọa, mặc phẩm phục trang nghiêm, 

Rún và mũi thẳng đường, 

Tai song song với vai 

Aùnh trăng ngập cả phòng; 

Mưa đã ngưng, nhưng mái hiên còn nhỏ giọt. 

Toàn hảo giây phút này— 

Trong tánh không vô tận, hiểu biết ta thẳm sâu. 

Vào đêm, sâu trong núi, 

Ta ngồi trong thiền tọa 

Chuyện nhân gian không bao giờ tới đây; 

Tất cả đều vắng lặng và rỗng rang, 

Nhang đã tàn trong đêm vô tận. 

Aùo ta đã đẫm sương. 

Không ngủ được, ta bước vào rừng— 

Đột nhiên, trên đỉnh cao, trăng tròn hiện. 

Đời ta nghèo 

Nhưng tâm ta sáng to? 

Khi ta qua 

Ngày lại ngày 

Trong lều cỏ này. 

Như dòng suối nho? 

Len lỏi qua 

Các vách núi rêu, 

Ta cũng lặng lẽ 

Trở thành sáng tỏ và trong trẻo. 

Khi các niệm 

Đã vắng cả rồi 

Ta lẩn vào rừng [pháp] 

Và gom nhặt 

Một xấp tiền của mục đồng. 

Rách rưới và tả tơi, rách rưới và tả tơi 

Rách rưới và tả tơi là đời này. 

Lương thực? Rau cỏ dại bên đường. 

Những bụi cây mọc quanh lều ta. 

Trăng và ta thường ngồi chung cả đêm, 

Và hơn một lần, ta đi lạc giữa rừng hoa dại, 

Quên lối về nhà. 

Không ngạc nhiên gì, ta rời khỏi chúng: 

Làm sao một ông sư khùng như thế sống trong chùa? 

Sống sâu trong núi, tất cả thiên nhiên trở thành bạn của Ryokan: 

Nếu nơi ngươi ẩn tu 

Nằm sâu trong rặng núi 

Chắc chắn là mặt trăng, 

Hoa và lá đỏ thắm 

Sẽ trở thành bạn ngươi. 

Hoa mẫu đơn dại 

Đã hoàn mãn 

Nở ra tròn đầy: 

Qúa trân quý để hái về, 

Qúa trân quý để không hái về. 

“Phong Lan” 

Sâu trong thung lũng, một vẻ đẹp ẩn mình: 

Thanh tĩnh, vô song, ngọt ngào vô lượng. 

Trong bóng mát im vắng của bụi tre 

Như tiếng thở dài nhẹ cho tình nhân. 

Cây và hoa 

Ta trồng quanh lều 

Bay giờ ta giao lại 

Cho ý muốn 

Của ngọn gió. 

Một ngày xuân, Ryokan ghi nhận thấy ba chồi tre mọc dưới hàng hiên. Tre lớn dậy nhanh ***ng, và rồi tre mọc thúc vào sàn. Ryokan lo ngại, vì sư không muốn thấy bất cứ gì chịu đau, ngay cả cây cỏ. Sư quyết định khoét một lỗ hở nơi sàn và đốt cho thủng một lỗ trên mái tranh đang che mái hiên, để cho tre mọc không cản ngại, nhung khi Ryokan đưa ngọn nến tới phần mái đó, toàn bộ mái hiên bắt lửa và cháy rụi. Ryokan làm một tang lễ cho cây tre bị thiêu rụi, và rồi dựng một hàng hiên không mái với mặt sàn là các tấm gỗ kéo qua lại, để sẽ cho các chồi tre mọc xuyên qua. 

Mặc dù Ryokan rời bỏ thế gian, nhưng sư không ghét bỏ nó: 

Không phải là 

Ta không muốn 

Hòa hợp với người khác 

Nhưng sống đơn độc trong tự do 

Là Con Đường tốt hơn cho ta. 

Khi ta nghĩ 

Về khổ đau 

Của chúng sinh cõi này, 

Nỗi buồn của ho. 

Trở thành của ta. 

Ô, tấm áo thầy chùa của ta 

Đủ lớn rộng 

Để bao lại hết tất ca? 

Những người đau khô? 

Trong trần gian trôi nổi này. 

Theo “Mười Tranh Chăn Trâu,” cao điểm của tu Thiền là “trở về xóm chợ với hai bàn tay trao cho người những niềm an lạc,” và Ryokan, hệt như Ikkyu và Hakuin trước sư, đã về hòa lẫn với đủ mọi hạng người – các lãnh chúa, ăn mày, nông dân, thương gia, người bán cá, chủ quán trọ, kỹ nữ, trẻ em, người bị ruồng bỏ—mà không mang tâm hạ mình hay ngăn ngại. 

Ryokan là một trong vài nhà sư Nhật Bản sống toàn bộ nhờ khất thực. Trong khi Ikkyu và Hakuin cũng có lúc đi khất thực, nhưng hầu hết trong đời hai vị này—cũng như gần như tất cả tăng sĩ [Nhật], quá khứ và hiện tại—hoặc là dựa vào các thí chủ giàu có hay là một nhóm Phật Tử thường xuyên cúng dường. Tuy nhiên, Ryokan đã ca ngợi việc khất thực như là “huyết mạch của đời sống tự viện,” một pháp tu linh thiêng do chính Đức Phật thiết lập, và sư đã trung thành theo luật sống khó nghèo trong suốt đời mình. 

Mây đã tan, 

Bầu trời trong trẻo— 

Đi xin ăn 

Với tâm thanh tịnh 

Là ơn phước từ trời. 

Ryokan một lần viết, “Thực phẩm nên được đón nhận như các con ong hút mật từ hoa; người ta nên khất thực một cách khiêm tốn như ánh trăng chiếu sáng cánh đồng.” 

Trong một bài thơ, Ryokan viết, “Ta sẽ ghé mọi nhà, ngay cả nhà kẻ bán rượu và dân bán cá, y hệt như Hoàng Tử Của Những Người Khất Thực [Đức Phật].” 

Ryokan cũng trích dẫn từ một kinh trong đó một vị sư bị khiển trách vì không chịu ghé xin ăn ở một số nhà nào đó, “Trên đường khất thực, tất cả mọi người phải được đối xử bình đẳng.” 

Do vậy, Ryokan sẽ dừng chân, không do dự, để xin ăn trước nhà của các cô bán dâm. Có lúc, khi các cô không bận rộn, các cô bước ra và chơi môn thể thao bắn bi với Ryokan. Khi Yoshiyuki nghe về phong cách kỳ quái của anh mình, ông mới giễu sư Ryokan bằng bài thơ sau: 

Oâng sư áo đen 

Chơi thể thao với 

Các cô gái giang hồ— 

Cái gì bên trong 

Tâm của sư này? 

Ryokan trả lời bằng thơ: 

Thể thao và thể thao, 

Khi ta đi xuyên qua cõi trôi nổi này. 

Tìm thấy mình nơi đây, 

Không phải tốt sao 

Khi xua tan ác mộng của người khác? 

Yoshiyuki vẫn chưa hài lòng: 

Thể thao và thể thao 

Trong khi đi qua cõi này 

Có lẽ là tốt, 

Nhưng sao sư không nghĩ 

Về cõi sắp tới? 

Kết luận của Ryokan là: 

Chính trong cõi này, 

Với tấm thân này 

Mà ta thể thao. 

Không cần nghĩ ngợi 

Về cõi sắp tới. 

Một lần, Ryokan du hành với một vị sư trẻ. Tại một tiệm trà, họ được cúng dường thức ăn trong đó có lẫn cá. Vị sư trẻ không động tới con cá, theo đúng truyền thống Phật Giáo chính thống, nhưng Ryokan ăn sạch không nghĩ ngợi. 

Vị sư mới nói với Ryokan, “Thức ăn đó có cá, thầy biết.” 

Ryokan đáp với nụ cười, “Đúng vậy, nó ngon tuyệt.” 

Đêm đó, một nông dân đón họ vào trú ngụ, và sáng hôm sau vị sư trẻ mới than phiền, “Chí rận cắn như khùng điên, và con thức suốt đêm. Nhưng sao thầy ngủ ngon như con nít. Sao vậy?” 

“Ta ăn cá khi được cúng dường, nhưng ta cũng để chí rận và muỗi mòng ăn tiệc trên thân tạ Không gì làm phiền ta cả,” Ryokan trả lời như thế. (Ryokan ngủ trong mùng, không phải để ngăn muỗi, nhưng là để bảo vệ chúng—sư sợ sư có thể vô ý giết chúng trong khi đang ngủ. Tuy nhiên, sư thò một chân ra ngoài mùng để cho muỗi không phải đói.) 

Y hệt như Phật, Ryokan với lòng biết ơn đón nhận bất cứ gì đặt vào bình bát khất thực của sư: 

Vì lợi ích cho chúng ta 

Các con sò trai và cá 

Tự hiến thân mình 

Không hề ích ky? 

Để làm thức ăn. 

Ryokan viết các bài thơ sau về công đức khất thực: 

Mùa xuân—chậm rãi tiếng chuông an bình 

Từ cây trượng xin ăn của ta vang về làng. 

Trong các vườn, các cây liễu xanh; 

Hoa lá nổi thanh tĩnh trên hồ. 

Bát của ta thơm hương gạo ngàn nhà; 

Tâm của ta đã rời mọi danh vọng phú quý. 

Lặng lẽ giữ gìn hồi ức về các vị cổ Phật, 

Ta đi bộ tới làng thêm một ngày xin ăn. 

Sau cả ngày khất thực trong làng 

Ta ngồi an bình dưới một mỏm đá trong đêm mát. 

Đơn độc, với một y, một bát— 

Đời một sư Thiền thực sự tự do nhất! 

Theo Phật Giáo truyền thống, các thí chủ nên biết ơn vì chính họ đang thu góp công đức khi cúng dường thức ăn cho một vị sư, nhưng Ryokan luôn luôn nhớ một câu được nhắc trong Thiền Tông: “Hãy nhớ tới công khó của nông dân khi gieo trồng gặt hái thức ăn này.” Thay vì nhìn thẳng về phía trước trong im lặng và đón nhận thức ăn mà không ghi nhận gì, như luật đòi hỏi, Ryokan lại nâng bát lên một cách tôn kính với trọn tấm lòng biết ơn, mỗi lần sư được cúng dường. Ryokan chắp tay vái chào và xin ơn Phật gia hộ bất cứ khi nào sư đi ngang qua các nông dân đang làm việc trên đồng ruộng, và sư để ra nhiều giờ trong lều ẩn tu để tụng kinh hồi hướng cho họ. 

Mùa xuân mưa phùn, 

Mùa hè mưa rào, 

Mùa thu khô. 

Xin nguyện cho thời tiết an lành 

Và chúng ta đều được thịnh vượng. 

Nếu mùa màng trúng đặc biệt, có khi Ryokan cũng tự mình lấy, khỏi chờ cúng. Một lần sư treo bài thơ này trên một cây trong vườn của một nông dân địa phương. 

Xin đừng nhầm ta 

Với một con chim 

Khi ta bước 

Vào vườn của ngươi 

Để ăn các quả táo dại. 

Đôi khi phẩm vật cúng dường tới bất ngờ: 

Sau khi gom củi từ trong núi 

Ta về lại căn lều 

Và thấy các quả mận đã ngâm dấm và khoai 

Để dưới cửa sổ bởi một vị khách. 

Các quả mận được gói giấy, 

Khoai để trong cỏ xanh, 

Và một mẩu giấy ghi tên thí chủ. 

Sâu trong núi, thức ăn thì vô vị— 

Hầu hết là củ cải và quả xanh— 

Nên ta mau ***ng nấu sôi chúng lên với tàu hủ và muối. 

Làm đầy bao tử vẫn thường trống trơn của mình 

Với ba chén đầy. 

Nếu bạn ta đã để lại chút rượu sake 

Thì đã trở thành bữa tiệc thực sự. 

Ta thưởng thức một phần năm món quà và cất của dư; 

Vỗ bụng đầy, ta trở lại việc thường ngày. 

Trong 6 ngày nữa sẽ là lễ Phật Thành Đạo 

Và ta không biết lấy gì cúng dường, 

Nhưng bây giờ ra giàu rồi— 

Phật sẽ ăn tiệc với mận và cháo khoai ngon tuyệt. 

Ryokan nổi tiếng vì không phí chút thức ăn nào. Nếu có gì còn dư, sư lại cất vào một nồi đất sành. Một cách tự nhiên, các thức ăn này dần dà lên men và hư đi, đầy các con giòi. Một vị khách một lần thấy Ryokan ăn từ nồi này. 

Vị khách la lên, “Đừng ăn thế. Nó hư rồi và có sâu trong đó.” 

Ryokan mới trấn an khách, “Không sao, được mà. Ta đã gạt giòi ra ngoài rồi mới ăn, bây giờ thì ngon lắm!” 

Ryokan thường chia sẻ thức ăn với chim, và với *** mèo lạc. Bên cạnh những lúc dư thừa, dù vậy, vẫn có lúc gian nan: 

Trên trời xanh, một con ngỗng mùa đông kêu lên; 

Núi trần trụi, chỉ trừ lá rơi. 

Hoàng hôn—trở về dọc con đường lạnh, 

Đơn độc, mang một bát cơm trống. 

Không xin ăn 

Một lần nữa hôm nay 

Trong làng. 

Tuyết rơi 

Và rơi. 

Hôm nay không may trong chuyến khất thực; 

Ta tự lê thân từ làng này sang làng kia. 

Tới hoàng hôn, thấy mình trong núi, cách lều nhiều dặm. 

Gió thốc vào thân gầy của ta 

Và bình bát nhỏ trông tội nghiệp— 

Nhưng đây là đường ta chọn và đã dẫn ta 

Xuyên qua thất vọng và đau đớn, lạnh và đói. 

Mặc dù Ryokan dựa hoàn toàn vào khất thực, sư thường ngây ngất bởi vẻ đẹp của các mùa trong khi đi bát. 

Ta đi nơi đó 

Để xin cơm, 

Nhưng bụi cỏ ba lá nở bông 

Giữa các đá tảng 

Làm ta quên cả lý do đi. 

Ryokan rất ưa thích cái bình bát nhỏ và thô nhám của mình, nguyên là vật cúng dường từ một gia đình mà họ từng dùng làm nồi nấu ăn. 

Trong bát khất thức nhỏ của ta 

Hoa tím và hoa vàng 

Lẫn vào nhau 

Làm vật cúng dường lên 

Chư Phật của Ba Cõi. 

Nhặt hoa tím 

Bên đường, ta vô tâm 

Để quên bình bát nhỏ lại— 

Ô tội nghiệp chiếc bát nhỏ! 

Ta đã quên 

Bát khất thực nhỏ lần nữa— 

Không ai sẽ nhặt ngươi, 

Chắc chắn không ai sẽ nhặt ngươi, 

Chiếc bát nhỏ và buồn của ta! 

Trên đường khất thực, Ryokan thường ngừng chân để giúp các gia đình việc bếp núc—rửa rau, chẻ củi, nhóm lửa. Nếu không có việc cụ thể nào để làm, sư ngồi lặng lẽ thiền tọa trong góc nhà. Sư cũng là một thầy lang dân gian xuất sắc, và chữa trị người bệnh trong gia đình thí chủ bằng xoa bóp, ngải cứu và thuốc dược thảo. Tuy nhiên, khi gia đình mời sư tới thăm họ ngày kế tiếp, sư luôn trả lời, “Rất tiếc, không hứa được. Chúng ta không bao giờ biết ngày mai ra sao.” 

Ryokan thích ngừng chân và chơi kusa-awase (trò chơi kéo dây, bằng các dây cỏ bện vào nhau) với các cậu trai làng, và chơi temari (thảy banh vải) với trẻ gái làng. 

Một lần nữa, trẻ con và ta giao chiến bằng dây cỏ xuân 

Bây giờ tiến, bây giờ lui, mỗi lần thêm tinh luyện. 

Hoàng hôn—mọi người về nhà; 

Mặt trăng sáng, tròn giúp ta chịu đựng nỗi cô đơn. 

Những ngày đầu xuân, trời xanh, mặt trời sáng. 

Tất cả đều đang dần dà tươi xanh. 

Mang bình bát, ta đi chậm vào làng. 

Ngạc nhiên thấy ta, trẻ em 

Vui mừng vây quanh, mang 

Chuyến khất thực của ta tới một cổng chùa. 

Ta đặt bát trên một tảng đá trắng và 

Treo túi lên cành cây. 

Nơi đây chúng ta chơi với cỏ dại và ném banh. 

Mỗi lần ta chụp banh, trong khi trẻ em hát; 

Rồi đây là phiên của ta. 

Chơi thế này, nơi đó và đây, ta quên thời gian. 

Người qua đường chỉ và cười ta, hỏi, 

“Sao lại ngốc nghếch thế?” 

Ta không đáp, chỉ cúi chào sâu; 

Ngay cả nếu ta đáp, họ sẽ không hiểu. 

Hãy nhìn quanh, không có gì khác đâu! 

Ryokan được gọi là “Vị Thầy Môn Chơi Temari” trong tỉnh, và luôn luôn giữ hai hay ba quả banh vải trong tay áo, sẵn sàng kéo ra ngay khi trẻ em xuất hiện: 

Chúng ta ném quả banh nhỏ tới và lui. 

Ta không muốn khoe tài nhưng… 

Nếu ai hỏi bí mật tài này, ta sẽ nói, 

Một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy! 

Chơi banh temari 

Với trẻ em làng 

Ngày xuân 

Am áp, và sương mù— 

Không ai muốn ngưng. 

Trong cõi Phật mười phương 

Chỉ có Nhất Thừa. 

Khi thấy rõ xong, sẽ không còn dị biệt trong các giáo pháp. 

Có gì để mất? Có gì để được? 

Nếu chúng ta được gì, thì nó đã ở đó ngay bước đầu; 

Nếu chúng ta mất gì, thì nó chỉ bị giấu gần bên. 

Hãy nhìn quả banh vải trong tay áo ta— 

Chắc chắn, nó là bảo vật của giác ngộ! 

Ryokan thương yêu trẻ em và đã viết nhiều bài thơ về các bạn nhỏ này. 

Trẻ em! 

Chúng ta sẽ đi 

Tới Iyahikp 

Để xem ngọn đồi 

Đầy hoa tím nở? 

Tay trong tay 

Trẻ em và ta 

Hái rau mùa xuân. 

Có gì mà 

Tuyệt diệu hơn? 

Mới bắt đầu tháng chín 

Khi chúng ta đi tới Gò Đuôi Thông (Pine Tail Ridge). 

Con ngỗng cô đơn bay trên đầu, 

Hoa cúc đã nở trọn. 

Trẻ và ta đã tới rừng thông này. 

Chúng ta chỉ đi bộ khoảng ngắn, 

Nhưng thế giới hàng trăm dặm cách xa rồi. 

Khi ta nhìn 

Trẻ chơi đùa hạnh phúc 

Mà không nhận ra thế 

Mặt ta 

Đầy nước mắt. 

Mùa xuân tới rồi, 

Cây mọc xanh tươi lại, 

Và những lá mùa thu trước đã đi xa. 

Ta phải vội vã 

Tìm gặp bọn trẻ! 

Một lần, Ryokan đang chơi trốn tìm với trẻ con, và sư chạy nấp trong một chái nhà gần đó. Trẻ con biết chỗ sư nấp và quyết định giỡn sư—chúng bỏ chạy mất mà không cho sư biết trò chơi xong rồi. Sáng hôm sau, một phụ nữ nông dân tới chái nhà này và kinh hoảng thấy Ryokan ẩn mình trong góc. Bà hỏi, “Thầy làm gì ở đây vậy, thầy Ryokan?” Sư mới thì thầm, “Suỵt, xin im lặng giùm. Nếu không thì bọn trẻ sẽ kiếm ra tạ” 

Ryokan là chuyên gia về giả chết. Sư ngả sấp người và để trẻ em chôn sư bằng cỏ và lá. Một lần, bọn trẻ thấy là sư ngưng thở. Bọn trẻ khóc rống lên, “Ồ, đừng. Thầy Ryokan lần này chết thật rồi!” Đột nhiên, Ryokan chồm dậy với một tiếng hét, hù bọn trẻ. Nhiều năm dài tọa thiền và kiểm soát hơi thở đã tập cho Ryokan nín thở và giữ không nhúc nhích trong nhiều phút. 

Một lần khác, Ryokan đang đi bộ gần làng thì nghe có tiếng la nhỏ, “Cứu con với! Xin cứu con, làm ơn!” Một cậu bé bị kẹt trên mấy cành cao nhất của một cây hồng vàng. Ryokan giúp cho cậu nhỏ xuống, và nói là sư sẽ hái vài trái cho cậu bé. Ryokan trèo lên cây và hái một trong các quả hồng vàng. Sư quyết định nếm thử trước, bởi vì quả hồng vàng chưa chín thì làm tê lưỡi, và sư không muốn làm cậu bé thất vọng. Ryokan thấy quả hồng vàng này rất ngọt, nên sư hái thêm quả nữa, và rồi cũng ngọt nữa. Quả này sau quả kia, sư ăn liên tục, la lên, “Ô, ngọt quá!” Sư đã hoàn toàn quên bẵng cậu bé đói khát đang chờ bên dưới, cho tới khi cậu la lên, “Thầy Ryokan ơi! Cho con vài quả với!” Sư Ryokan mới sực nhớ, cười to và chuyền các quả hồng vàng cho cậu nhỏ. 

Ryokan đã viết bài thơ tưởng niệm sau cho tất cả trẻ em chết trong một trận dịch đậu mùa: 

Khi mùa xuân tới 

Từ đầu các cành 

Hoa sẽ nở, 

Nhưng các lá đỏ của năm ngoái 

Những chiếc lá nhỏ, 

Sẽ không bao giờ trở lại nữa. 

Ryokan cũng vui thú nhấp rượu sake—thứ “nước nóng của trí tuệ siêu việt” và thuốc “tốt nhất trong mọi phương thuốc”—với dân làng trong những khi nông dân rãnh rỗi: 

Đi bộ dọc bên sông nước trong, 

Ta đến một nhà nông. 

Hơi đêm lạnh đã lui, để chỗ cho hơi ấm mặt trời. 

Đàn chim sẻ vào một vườn tre, 

Tiếng ríu rít nơi đây và kia. 

Ta gặp một cụ nông dân từ ruộng về; 

Oâng chào ta như bạn lâu ngày gặp. 

Trong nhà, vợ nông dân này hâm nóng rượu sake 

Trong khi chúng ta ăn rau mới hái và hàn huyên. 

Cùng nhau, say mềm người, chúng ta không còn biết 

Ý nghĩa của điều không vui. 

Giữa mùa hè— 

Ta chống gậy đi. 

Các nông phu già thấy ta 

Và gọi ta vào uống chút. 

Chúng ta ngồi trong cánh đồng 

Lấy lá làm đĩa. 

Say vui vẻ và hạnh phúc như thế, 

Ta trôi dạt bình an 

Nằm dài người ra trên bờ ruộng. 

Uống rượu sake ngọt ngào 

Với các nông dân 

Trong khi lông mày chúng ta 

Đổi màu trắng 

Vì tuyết vương. 

Ngày mai? 

Ngày sau đó? 

Ai biết? 

Chúng ta say 

Hôm nay mà! 

Đôi khi Ryokan ghé thăm các bạn già. Các bạn này kể về sư như sau: 

Khi Ryokan ghé thăm, cứ hệt như mùa xuân tới trong một ngày mùa đông u ám. Nhân cách sư thanh tịnh, và sư không hề có tính mưu mẹo và hai lòng. Cao và gầy, Ryokan trông giống như một vị tiên mà văn chương cổ và tôn giáo nói tới. Sư không có chút xíu khoa trương nào, và sư toát ra hơi ấm và từ bị Sư không bao giờ giận dữ, và cũng không chịu nghe chuyện chỉ trích người khác. Giọng nói của sư luôn luôn trong trẻo và sáng ngời. Khi sư vào ngồi trong một căn nhà nào, mọi rắc rối trong gia đình đó như dường biến mất, và ngôi nhà sẽ vẫn giữ được nhiều ngày an bình sau chuyến viếng thăm đó. Chỉ đơn giản gặp sư thôi, mọi người cũng thấy mình tốt đẹp ra. 

Trong khi nhiều vị sư thuyết giảng nhiều giờ về sự thâm diệu của kinh điển, hay là làm các buổi lễ phức tạp (và tốn kém), Ryokan chỉ đơn giản lang thang trong bộ y tả tơi, luôn luôn mỉm cười và cúi chào mọi người, một bài thuyết giảng sống không khác gì Thánh Francis of Assisi, “Gã Khờ của Thiên Chúa.” Vị thánh bảo hộ cho Ryokan là Jofukyo, “Thường Bất Khinh Bồ Tát.” 

Buổi sáng, cúi lạy tất cả; 

Buổi tối, cúi lạy tất cả. 

Tôn kính mọi người là nhiệm vụ duy nhất của ta— 

Nam Mô Thường Bất Khinh Bồ Tát 

Trong khắp đất trời, ngài đứng đơn độc. 

Một vị sư chân thực 

Cần 

Chỉ một thứ— 

Một tâm hệt như 

Thường Bất Khinh Bồ Tát. 

Ryokan dịu dàng quở trách các sư bạn vì quá chú trọng tới chi tiết và phân chia tông phái, chữ nghĩa và khái niệm: 

Khi ta thấy các sư uyên bác giảng kinh, 

Lời hùng biện của họ trôi chảy thành vòng tròn; 

Ngũ Thời Phán Giáo và Bát Thuyết— 

Những lý thuyết đẹp, nhưng ai cần chúng? 

Người sính chữ thì nhét đầy đầu, 

Nhưng hãy hỏi họ các chuyện quan trọng thật 

Và bạn chỉ nghe các lời trống rỗng. 

Đức Phật có vô lượng pháp môn, 

Mỗi pháp hiển lộ sự thật thanh tịnh nhất 

Hệt như mỗi làn gió mát và mỗi giọt mưa 

Làm tươi mát cánh rừng. 

Không kinh nào mà không đưa tới giải thoát. 

Hãy nắm yếu nghĩa của mỗi tông phái, 

Và ngưng xếp hạng Phật pháp. 

Không gì làm ta 

Hạnh phúc hơn 

Là lời nguyện Phật A Di Đà 

Để cứu 

Tất cả chúng sinh. 

Trong một làng, có một người chèo đò chuyên gây rắc rối. Người này bực bội vì cứ nghe mọi người ca ngợi sư Ryokan, và khi sư Ryokan lên ghe người này để qua sông, người này mới lắc thuyền dữ dội, và Ryokan té xuống sông. Ryokan gần như chết đuối, cho tới khi người chèo đò kéo sư lên. Không biết là người lái đò cố ý làm sư té sông, Ryokan cảm ơn người đó vô kể. Người chèo đò không mong đợi sự đáp ứng đó, và bắt đầu ân hận về chuyện này và về tất cả việc xấu đã làm. Oâng đưa Ryokan lên bờ, và sư một lần nữa bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc. Sau đó, khi Ryokan quay lại cho chuyến trở về, người lái đò mới thú tội và xin sư Ryokan tha lỗi. Ryokan chỉ mỉm cười và nói người này đừng lo lắng gì nữa. Họ cùng chia nhau một hũ rượu sake và người lái đò sau đó sống an lành tử tế. 

Một lần khác, một nhà sư say rượu bỗng nhiên lên cơn và tấn công Ryokan. Sư Ryokan chỉ lặng lẽ chịu đựng những cú đánh của nhà sư kia, cho tới khi hung thủ bị dân làng trấn áp. Đêm đó, một trận bão xô tới, nhưng Ryokan, lúc đó đang ngụ tại nhà một người bạn, đột nhiên bước ra ngoài. Lo ngại cho sự an toàn của Ryokan, người bạn mới ra theo sư, thì thấy Ryokan lấy một chiếc áo mưa bằng rơm che cho nhà sư khùng kia, người đang ngủ mê man trong một cánh đồng. 

Một lần, một thân nhân của Ryokan yêu cầu sư nói chuyện với cậu con trai hư hỏng của người này. Ryokan tới thăm gia đình này, nhưng không nói một lời khiển trách nào với cậu kia. Sư ở lại qua đêm, và sửa soạn rời vào sáng hôm sau. Khi cậu con trai hư hỏng kia giúp buộc đôi dép rơm của Ryokan, cậu cảm thấy có một giọt nước ấm trên vai mình. Ngẩng lên, cậu thấy Ryokan đang nhìn xuống cậu, mắt sư đầy nước mắt. Ryokan quay trở lại am viện Gogo-an, và cậu thanh niên kia từ đó về sau hoàn toàn tu tỉnh. 

Ryokan không bao giờ tìm kiếm đệ tử, nhưng sư có một người bạn, Saichi, người cùng họ với sự Khi Saichi chết, Ryokan cảm xúc đau đớn: 

Ah… người cư sĩ Thiền sinh của ta. 

Ngươi theo ta học hai thập niên; 

Ngươi là người thật sư. 

Hiểu các thứ 

Những người khác đã bỏ sót hoàn toàn. 

Vị tướng quân của một vùng địa phương muốn xây một ngôi chùa khổng lồ và để Ryokan làm trụ trì. Vị này tới tìm gặp Ryokan ở Gogo-an, nhưng Ryokan lúc đó đang ra ngoài hái hoa, và vị tướng quân và tùy tùng phải chờ cho tới khi sư trở về với bình bát đầy các hoa thơm. Vị tướng quân nói lên thỉnh nguyện, nhưng Ryokan giữ im lặng. Rồi sư lấy cọ viết bài thơ hài cú và trao cho tướng quân: 

Ngọn gió mang tới 

Đủ lá rơi 

Để nhóm một ngọn lửa. 

Vị tướng quân gật đầu ra dấu hiểu, và về lại lâu đài. 

Một lần, một tên trộm nhầm lẫn vào am Gogo-an, nhưng dĩ nhiên không thấy gì giá trị. Thất vọng, tên trộm mới lấy chiếc mền cũ và tả tơi và chiếc bồ đoàn thiền tọa của sự Khi Ryokan về lại căn lều, thấy chuyện xảy ra mới viết bài thơ hài cú sau: 

Tên trộm để lại phía sau— 

Mặt trăng 

Nơi cửa sổ. 

Ryokan yêu thích dự các buổi nhảy múa suốt đêm của Lễ Hội Bon giữa mùa hè, nhưng vì là thầy chùa, nên sư phải ngụy trang bằng cách trùm một vuông khăn lớn và mặc bộ áo kimono phụ nữ. Dĩ nhiên, tất cả dân làng đều biết đó là Ryokan, và tới một năm, nhiều người dân làng quyết định trêu chọc sự “Cô gái yêu kiều này là ai vậy?” họ thì thầm với nhau nhưng đủ lớn cho Ryokan nghe. “Cô này chắc chắn là một người nhảy múa hay lắm!” Rất mực khoái trá, sư say mê với vai trò của nữ vũ công, nhảy tới nhảy lui với vẻ diễm kiều đầy nữ tính. 

Ryokan không thích lễ lạc long trọng. Một hôm, sư được mời dự một lễ trà đạo chính thức tại nhà một gia đình giàu có. Người chủ hãnh diện về các bộ đồ trà đắt giá, thanh lịch, và các vị khách khác tới trong các bộ kimono bằng gấm Kyoto đắt tiền. Khi Ryokan, mặc bộ đồ thường lệ rách rưới chắp vá, nhấp hớp trà, rồi nhăn mặt và la lên, “Đắng quá—hương vị ghê quá!” Rồi sư mới nhổ trà vào lại tách. Để gây rối thêm, Ryokan mới khạy mũi của mình và tìm cách quẹt vào tay áo của vị khách ngạo mạn ngồi kế bên sư. 

Mặc dù Ryokan hài lòng với đời sống của một ẩn tu, vẫn có những lúc cô đơn sâu thẳm: 

Đôi khi ta ngồi lặng lẽ, 

Lắng nghe tiếng lá rơi. 

Thật sự bình an là đời sống của một vị sư, 

Cắt lìa khỏi tất cả chuyện đời. 

Mà sao ta rơi nước mắt? 

Trong thế giới này 

Nếu có ai 

Cùng tâm này— 

Chúng ta có thể cả đêm 

Nói chuyện trong căn lều nhỏ của ta! 

Ryokan vui sướng khi có khách thăm, và thường gửi các bạn thư mời bằng thơ: 

Nếu bạn không ngại 

Tiếng vang thung lũng 

Và các ngọn núi đầy sao trời, 

Sao không đi xuyên rặng cây tùng 

Và tới thăm ta? 

Xuân tới rồi! 

Trân châu và vàng bạc 

Khắp mọi nơi— 

Làm ơn, làm ơn 

Tới thăm ta. 

Các cành cây sẽ 

Dùng làm củi mùa thu 

Vẫn còn đang nở hoa— 

Hãy gom cỏ đẫm sương 

Và tới thăm ta. 

Tối rồi 

Hãy tới lều của ta— 

Các dế mèn sẽ 

Hát ru bạn, và ta sẽ 

Giới thiệu bạn với rừng đầy trăng. 

Khi có khách tới thăm Ryokan, sư mang ra cho họ một chiếc bát dùng làm chậu rửa taỵ Họ sẽ phản đối, “Đó là bình bát để ăn của sư mà—chúng tôi không thể dùng nó để rửa tay mình!” 

Ryokan sẽ trấn an họ, “Không, không. Đây là chiếc bát duy nhất ta có, và nó dùng được cho cả nấu ăn, bát đựng nước, và chậu rửa taỵ Thêm nữa, ta thấy nó bị ném bỏ trong một bụi cây. Có ai ném nó đi mà, nhưng ta đã cho nó một nơi ở mới!” 

Bosai (1752—1826), một học giả nổi tiếng từ kinh đô Edo, từ lâu muốn gặp vị Thiền sư kỳ dị xứ Echigọ Oâng tìm tới lều của Ryokan, nhưng khi tới thì Ryokan đang ngồi tọa thiền ở hàng hiên. Không muốn làm gián đoạn, Bosai chờ cho tới khi Ryokan hết thời thiền tọa, gần như ba giờ đồng hồ sau đó. Ryokan rất mực vui mừng được gặp học giả nổi tiếng này, và họ nói chuyện về thi ca, triết học, và văn chương suốt cả ngày hôm đó. Khi đêm tới, Ryokan muốn đi tìm chút rượu sakẹ Ryokan bảo Bosai chờ một chút, trong khi sư chạy xuống một nhà nông dưới núi để mượn chút rượu. Bosai chờ và chờ, nhưng Ryokan không trở lại. 

Cuối cùng, Bosai mới đi tìm sự Oâng kinh ngạc gặp sư cách lều có vài trăm thước, ngồi dưới một gốc thông, nhìn mơ mộng vào trăng rằm. 

“Thầy Ryokan! Thầy ở đâu vậy? Tôi chờ thầy mấy giờ liền! Tôi nghĩ thầy gặp chuyện bất trắc!” 

“Bosai ơi! Bạn tới vừa đúng lúc. Không phải trăng đẹp tuyệt vời sao?” 

“Vâng, vâng, nó đẹp tuyệt vời. Nhưng rượu sake đâu?” 

“Sake hả? Ô, vâng, rượu sakẹ Xin tha lỗi cho tôi. Tôi sẽ lấy nó ngay mà!” Ryokan chồm dậy và phóng xuống núi, để Bosai đứng nhìn ngơ ngẩn. 

Khi bạn hữu ghé thăm, Ryokan thường đón bạn bằng thơ: 

Sâu trong rừng, 

Vây phủ giữa mùa đông 

Một lão già như ta— 

Ai sẽ là người đầu tiên tới thăm? 

Ta biết đó sẽ là bạn! 

Trong khi dứt hạt mưa 

Ta đi hái vài 

Rau ngò tây dại 

Để bạn thưởng thức 

Trong khi viếng thăm. 

Thật vô tâm 

Cho các chùm tuyết 

Không chịu rơi 

Vào ngày 

Bạn quý thăm. 

Đối với các bạn sắp chia tay, Ryokan viết: 

Hãy chờ ánh trăng 

Trước khi bạn đi— 

Lối mòn xuống núi 

Dầy đặc những 

Hạt dẻ rơi! 

Phủ dầy sương, lối núi 

Đường sẽ giá lạnh. 

Trước khi bạn rời 

Hãy thử nha 

Một tách cuối rượu ấm? 

Ryokan không phải một nhà khổ hạnh chán đời, tim lạnh cho dù là đang ở phố chợ hay nơi ẩn cư: 

Cả đêm dài 

Trong gian lều co? 

Sưởi ấm bởi nét bút 

Chúng ta nói chuyện và nói chuyện. 

Làm sao ta quên đêm tuyệt diệu đó. 

Xuống lũng sâu để hái phong lan 

Mặt đất phủ đầy sương và giá 

Và mất cả ngày để tìm hoa. 

Ta hốt nhiên nghĩ về một bạn cũ 

Cách biệt nhiều dặm núi sông. 

Chúng ta có bao giờ gặp lại? 

Ta nhìn lên trời xa 

Dòng lệ chảy xuống đôi má. 

Cũng như với Ikkyu và Hakuin, thi ca và thư pháp là trọng tâm Thiền của Ryokan, và thơ của sư được dùng làm các bài giảng Phật Giáo kín đáo. Về mặt kỹ thuật, Ryokan bị ảnh hưởng bởi kinh điển thi ca Trung Hoa và Nhật Bản, nhưng sư phần lớn viết những khi nào sư thích và nói chung thì bỏ lơ các luật về thơ. 

Ai nói thơ ta là thơ? 

Thơ ta không phải thơ. 

Sau khi ngươi biết thơ ta không phải thơ, 

Thì chúng ta có thể bàn về thơ! 

Ryokan cảm thấy thích đặc biệt nhân vật Hàn San (Nhật: Kanzan; Hoa: Han-shan; Việt: có khi được phiên âm là Hàn Sơn), nhà thơ Thiền kỳ dị đầy huyền thoại của Thiền Tông Trung Hoa, thời nhà Đường. (Hàn San cũng được ưa chuộng đặc biệt bởi Hakuin, người đã viết một bài luận giảng dài về thơ Hàn San và vẽ vị này thường xuyên trong hội họa.) Dưới đây là một bài điển hình của Hàn San: 

Nhà ta là hang động, không vật gì bên trong— 

Thanh tịnh và rỗng rang diệu kỳ, 

Sáng tỏ và trong trẻo như mặt trời. 

Một dĩa rau núi là đủ, 

Và một áo vá đủ che thân ta. 

Hãy để thiên ma hiện lên hứa dâng đủ thứ 

Ta đã có Tối Thắng Phật nơi đây rồi! 

Ryokan làm bài thơ sau, cùng phong cách đó: 

Về nhà sau một ngày khất thực; 

Rau thơm đã phủ nơi cửa. 

Giờ đây, một nắm lá đốt chung với củi. 

Lặng lẽ, ta đọc thơ Hàn San, 

Bên tiếng gió thu rít qua mái tranh. 

Ta duỗi thẳng chân và nằm xuống. 

Có gì để lo lắng nữa? 

Có gì để ngờ vực nữa? 

Thư pháp của Ryokan còn được trân quý hơn thơ của sư—vẻ đẹp tinh tế và nét khác thường quyến rũ trong chữ sư viết, kết hợp với sự thanh tịnh và nồng ấm hiển lộ trong từng nét bút dẫn tới một ảnh hưởng, có lẽ, không gì ngang hàng được trong nghệ thuật Nhật Bản. Thực sự, hiện tượng những người thưởng ngoạn sành điệu ưa thích thơ và thư pháp của Ryokan lại mang tính bi hài, vì Ryokan một lần nói rằng trong vài thứ sư không ưa là “thơ viết bởi một nhà thơ, và thư pháp viết bởi một nhà thư pháp.” 

Ryokan vẫn liên tục tập luyện thư pháp, trân trọng viết Thousand Character Classic (Sách Một Ngàn Chữ) mỗi buổi sáng, và làm đen kịt các tờ giấy tập viết. Ngay cả trong các chuyến đi khất thực, sư cũng dùng ngón tay kẻ chữ trên không hay lên mặt cát dưới chân mình. Từ khi thư pháp của sư được đánh giá cao, đủ thứ loại người mới tới xin các bản thư pháp của sư: 

Ta cạo đầu, làm Thiền sư, 

Mất nhiều năm tìm Đạo xuyên rừng cỏ rối. 

Nhưng bây giờ, người ta chỉ nói với ta, 

“Viết cho con bài thơ với! Viết cho con bài thơ với!” 

Khi người ta bắt đầu say mê tìm các bức thư pháp của sư chỉ để trưng bày, trong khi bỏ lơ nội dung Thiền tính, Ryokan bắt đầu thoái thác. Điều này đã dẫn tới một trận chiến gài mưu rất buồn cười. 

Một hôm, một thương gia giàu có thèm muốn vài tấm thư pháp của Ryokan mới nói với nhà sư ngây thơ rằng một họa sĩ nổi tiếng sắp tới viếng nhà ông. Ông mời Ryokan tới để gặp họa sĩ, và khi Ryokan tới nhà thương gia, Ryokan được dẫn vào một phòng lớn trong đó đặc biệt sửa soạn cho tác phẩm của một bậc thầy: bột mực tươi, thơm, một bộ cọ tốt nhất, hàng xấp giấy thư pháp. Thương gia mới nói dối, “Họa sĩ sẽ tới đây sớm. Xin thầy cứ tự do sử dụng các vật liệu này cho tới khi hoa. sĩ tới.” Đúng như thương gia đã tính toán, Ryokan không chống cự nổi, và chẳng bao lâu căn phòng chất đầy các tấm thư pháp của Ryokan. Khi Ryokan rời khỏi cơn thơ mộng, sư mới nghĩ rằng thương gia sẽ nổi giận vì sư đã xài hết mực và giấy, nên sư mới ngượng ngập rời khỏi nhà vị thương gia. Vị này đã có điều ông muốn. 

Trong một chuyện tương tự, Ryokan được để đơn độc trong một phòng với các cánh cửa mới dán giấy. Sư bị màu trắng của giấy mới thu hút, nên cầm bút viết các bài thơ của Hàn San khắp lên đó. Mặc dù việc này không tính toán trước, vị chủ nhà rất mực hài lòng và sau đó cho bóc giấy ra khỏi các khung cửa, và treo vào các cuộn thư pháp. 

Ryokan rất thích hoa, và người bạn Yamada của sư có một ngôi vườn đầy các hoa mẫu đơn tuyệt diệu. Yamada không để cho ai chạm tới các cành hoa quý giá này, nhưng một hôm ông bắt gặp Ryokan, người không thể tự giữ mình lâu hơn, tìm cách lẻn ra với một cành hoa. Thấy ngay một cơ hội để xin một số thư pháp từ Ryokan, Yamada mới hô lên, “Cho dù thầy là một Thiền sư, thầy cũng không thể thoát đi với nó!” 

Yamada dẫn nhà sư Ryokan đang mắc cỡ ra giao cho viên cảnh sát trong làng, và để giam sư trong một căn phòng nhỏ. Yamada mới vẽ phác thảo cảnh sư Ryokan trộm hoa mẫu đơn và nói với sự “Hãy nghe đây, sư trộm hoa! Tôi sẽ để sư đi nếu sư vẽ một bài viết bên phác thảo này.” Ryokan viết một cách ân hận: 

Ryokan bị bắt 

Quả tang 

Đang trộm hoa. 

Giờ thì mọi người 

Sẽ luôn luôn biết thế. 

Một đại tác phẩm thư pháp Nhật Bản cũng được kiếm bằng phương thức đầy thủ đoạn tương tự. Khi Ryokan tới gần một nhóm trẻ con đang làm diều, các em khóc lên, “Ryokan! Ryokan! Xin thầy viết cái gì lên đi, để làm cho diều của tụi con bay!” Ryokan suy nghĩ chút xíu, rồi viết lên tờ giấy bản mà các em đưa cho sư “Trời—Lên—Gió—Lớn.” 

Vẻ đẹp của bốn chữ này—trong các mẫu tự đơn giản nhất của ngôn ngữ Nhật mà tất cả trẻ em đều biết—được viết một cách hồn nhiên với cây bút vay mượn, lên tờ giấy đặt trên mặt đất, thì không có thể mô tả được, và tác phẩm này trở thành một bảo vật thật sự. Nhưng thực sự, trẻ con đã bày trò xin là do một người hàng xóm thông minh xúi giục. 

Dù vậy, trong nhiều trường hợp, Ryokan đã chơi gác cợ Một lần, Ryokan bị gạt lên lầu của một căn nhà lớn, và bị kẹt nơi đó khi gia chủ rút thang ra. Họ mới nói với tù nhân, “Tụi con sẽ không để thầy xuống, cho tới khi thầy viết một số thư pháp cho tụi con.” 

Ryokan nói, “Tốt lắm.” Sư mới viết ào ạt mấy tấm thư pháp, cầm lên cho họ xem, và họ mới đặt thang vào lại. Nét viết rất khó đọc, nhưng sau đó họ mới thấy là tất cả các tấm đều viết cùng một câu: “Không có thang, ta không có chân.” 

Trong một hoàn cảnh tương tự, khi Ryokan gặp một trận mưa lớn và cần nơi núp mưa, sư bị buộc phải viết chữ lên nhiều chiếc quạt. Một chiếc quạt ghi chữ, “Khi trời mưa, Ryokan rất buồn.” 

Một trường hợp khác, một vị sư bạn mang một số giấy tới cho Ryokan và nói, “Người ta nói thư pháp của sư không đẹp như trước kia, bởi vì sư không thực tập đủ. Đây, sư có thể thực tập trên giấy này.” Ryokan viết nguệch ngoạc lên, “Đường ngọt, thuốc đắng.” 

Ryokan một lần vẽ một đầu lâu, một chủ đề được ưa chuộng của các họa sĩ Thiền, cho một nhà sư bạn. Vị sư này muốn Ryokan viết thêm vào mấy chữ, nhưng Ryokan nghĩ tấm tranh thế là đủ. Nhưng vị sư cứ nài nỉ, đòi Ryokan phải viết chữ gì đó mỗi lần sư ghé thăm. Cuối cùng, Ryokan mới viết lên dòng chữ: “Hôm nay, Ryokan đã viết chút gì.” 

Một lần, sau một mùa đông dài giam hãm, Ryokan được bác thợ hớt tóc cạo phân nửa chiếc đầu bờm xờm, và rồi đòi “tiền chuộc” để cạo phân nửa còn lại: một mẫu thư pháp của Ryokan. Ryokan mới viết tên một vị thần của Thần Đạo. Loại kẻ chữ này dùng như một lá bùa may mắn, nên bác thợ cạo mới gắn vào cuộn tre và treo trong nhà. Một hôm, một người bạn nói, “Thiếu một mẫu tự trong tên vị thần này.” Tình hình thiếu chữ này làm hỏng hiệu quả thư pháp dùng như lá bùa may mắn, nên bác thợ cạo mới tìm tới Ryokan, thì mới nghe đáp, “Thì ngươi làm thiếu cho ta, nên ta mới làm thiếu cho ngươi. Còn như bà già tử tế dưới phố kia cứ luôn luôn cho ta thêm bánh, nên bức thư pháp ta cho bà cụ có thêm mẫu tự khác nữa trong đó!” 

Ryokan yêu thích chơi môn cờ Go, nhưng sư không muốn thua, điều rất là bất hạnh vì sư không phải cao thủ. Một lần, sau một ván cờ thua suýt soát, sư muốn đấu lại, và bấy giờ đối thủ mới nói, “Chỉ [đấu lại] khi nào thầy hứa cho con một bức thư pháp mỗi lần thầy thua cờ.” Ryokan do dự đồng ý, nhưng sư lại cứ thua hoài thôi. Đối thủ của sư mong đợi thắng nhiều giải thưởng thư pháp đầy Thiền ngữ, nhưng tất cả những gì kiếm được lần này chỉ là các tấm sư viết: 

Hái các quả hồng vàng— 

Hai hòn dái ta lạnh cóng 

Vì gió thu. 

Ryokan thường vô ý bỏ sót một số chữ khi sư viết các bài thơ dài hay trích dẫn từ trí nhớ, và một lần có người than phiền về điều này. Ryokan đáp, “Bất kỳ ai có thể đọc thư pháp của ta đều có thể dễ dàng kiếm ra chữ bị sót; còn những ai không đọc được thì họ không thấy bị thiếu chữ nào!” 

Một người bạn của Ryokan xin một tấm thư pháp để mang may mắn và thịnh vượng cho gia đình ông. Ryokan viết một chữ “Shi” đơn độc lên một tấm giấy khổ lớn. Người bạn hỏi, “Thế là nghĩa gì?” Như gợi lại công án của Hakuin, sư Ryokan trả lời, “Tử. Sự chết. Khi người ta cứ nghĩ hoài về sự chết, họ không hoang phí thì giờ hay tiền bạc gì nữa.” 

Một lần, chủ một tiệm nước tương ở Nagaoka đi một chuyến đường dài tới căn lều của Ryokan với thỉnh cầu đặc biệt. Tấm bảng hiệu trước tiệm của ông được kẻ chữ quá xấu, và người chủ thấy đó là lý do làm khách không vào tiệm ông. Ryokan có sẽ giúp người này bằng cách viết chữ cho tấm bảng hiệu mới? Ryokan đồng ý và viết lên “Giấm—Nước Tương—Joshuya.” Người chủ tiệm cực kỳ vui thích và hãnh diện trưng bảng hiệu khi về lại. Vài ngày sau, Bosai (vị học giả nổi tiếng đã nói ở một đoạn trên) tình cờ đi ngang tiệm này và thấy bảng hiệu. Bosai bước vào, thông báo cho chủ tiệm rằng tấm bảng hiệu với nét chữ đó đã trở thành rất mực quý giá, đừng nên để ngoài gió mưa như thế, và học giả này viết cho bảng hiệu mới. Tấm bảng của Bosai được treo lên, và rồi được nhìn thấy bởi một nhà thư pháp khác, mà vị sau này nổi tiếng chỉ thua Ryokan và Bosai. Tình hình này được lập lại lần thứ tư—tiệm này giàu lên và chủ tiệm trở thành người sở hữu hãnh diện của bốn tấm bảng hiệu tuyệt vời. 

Đôi khi, danh tiếng thư pháp của Ryokan cũng tiện dụng. Trong một chuyến du phương, Ryokan buộc phải thuê một con ngựa thồ để qua một đường núi nguy hiểm. Sư không có đồng nào để trả khoản tiền 16 đồng sen, nên sư nói với người lái, “Ngươi có thể đánh vào đầu ta 16 cái.” Người tài xế nhận ra Ryokan, nên nói, “Không. Thầy viết 16 chữ lên giấy này, thì con không tính tiền.” 

Tương tự, khi Ryokan gặp một người lữ hành đang cần nơi trọ, tất cả điều sư làm là viết một lá thư nhỏ để giới thiệu: “Hãy đưa thư này cho bất kỳ ai trong làng, và ngươi chắc chắn sẽ có nơi trọ.” 

Bên cạnh chuyện thư pháp trên diều đã nói, có hai tác phẩm lớn khác của Ryokan là “Một—Hai—Ba, I—Ro—Ha [A—B—C]” và “Tâm—Nguyệt—Luân” (Heart—Moon—Circle). Cặp đầu tiên của cuộn thư pháp treo là viết cho một chủ tiệm, người xin cho một cái gì đơn giản mà ai cũng có thể đọc. Bức thứ nhì được viết trong nhà bếp của một trong các bạn của Ryokan. Cái nắp gỗ cũ kỹ đậy nồi cơm gia đình đã nứt ra và được đặt qua bên chờ làm củi. Ryokan cảm thấy tội nghiệp cái nắp, nên sư viết các chữ “Tâm—Nguyệt—Luân” lên nắp, biết rằng người ta sẽ không hủy nắp này nếu có chữ sư trên đó. Nét bút cực kỳ uy nghi tới nỗi gia đình này đưa nắp đi hàn lại, và bức thư pháp này thế là khảm vào gỗ. 

Trong các tài sản được trân quý nhất của những người dân trong vùng gần Ryokan cư ngụ là các chữ mà họ nhận được từ vị sư kỳ dị này trong những năm sư ngụ Ở Gogo-an và Đền Otogọ Khi sư ngày càng suy yếu với tuổi già, tình hình khó khăn cho Ryokan để đi các chuyến khất thực hàng ngày, và các bạn sư bắt đầu cung cấp các thứ cần dùng đơn giản—một áo vải sợi, một cặp vớ tabi, một mũ vải, nhang, một quả banh temari, trà, gạo, đậu hũ, thuốc lá, dưa chua, dầu, rau cải, trái cây, rượu sake, và, như một quà tiệc, cả bánh ngọt nữa—bởi một người đem tới. Bất cứ khi nào Ryokan nhận đồ cúng dường như thế, sư gửi một lá thư nhỏ, hay một bài thơ xác nhận món quà và cảm ơn thí chủ có tâm cúng dường như thế. Thực sự, cách bảo đảm nhất để có một mẫu thư pháp của Ryokan là cúng sư một phẩm vật—sư luôn luôn gửi một thư cảm ơn! Dưới đây là hai bài thơ như thế: 

Rong biển, 

Rượu sake, và rau cải: 

Với các quà tặng tốt như thế 

Mùa xuân của ta 

Không còn đơn độc nữa! 

“Món Qùa Bảy Quả Lựu” 

Xẻ chúng ra, 

Tách chúng rời ra, 

Bẻ chúng làm đôi: 

Ăn, ăn, ăn— 

Không để chúng rời miệng ta! 

Nếu Ryokan thấy đồ dùng vơi cạn, sư sẽ gửi các bài thơ kêu gọi: 

Thời tiết đẹp và 

Ta có nhiều khách thăm 

Nhưng thực phẩm còn ít. 

Còn quả mận ngâm giấm nào 

Để dành không? 

Trời lạnh giá 

Đom đóm 

Hết chiếu sáng nổi: 

Sẽ có ai tử tế 

Gửi ta chút nước vàng? 

(“Đom đóm” là một trong các tên gọi thân mật của Ryokan; “nước vàng” là rượu saké.) Trong các trường hợp hiếm hoi, Ryokan được cúng tiền, thì sư cẩn trọng viết một tấm biên lai, một loại thư pháp giấy nợ và sau đó tấm này được treo lên làm tranh nghệ thuật. Một lần, Ryokan viết cho một thân nhân, “Ta đã tích tụ một số tiền lớn. Hãy tới đây mà lấy.” Số tài sản lớn này hóa ra chỉ là một đồng cắc bằng bạc. 

Tình cờ, có người nói với Ryokan rằng nếu người ta thấy tiền trên đường đi, thì họ sẽ rất là hạnh phúc. Một hôm, sau khi nhận nhiều đồng cắc trong chuyến khất thực, sư quyết định để xem lời đó có thật hay không. Ryokan rải các đồng cắc dọc theo đường và rồi nhặt chúng lên. Sư làm thế nhiều lần mà không cảm thấy gì háo hức, nên thắc mắc không biết người kia muốn nói gì. Ryokan thử thế thêm vài lần và trong khi làm thế, sư mất toàn bộ số tiền đó trong cỏ. Sau khi lục tìm thời gian lâu, sư cuối cùng thấy các đồng cắc sư đã mất. Ryokan rất là hạnh phúc. Sư nghĩ, “Bây giờ ta hiểu. Tìm ra tiền thật sự là một niềm vui.” 

Ryokan cũng gửi thư tới các bạn học giả để xin sách, và cũng để chia sẻ các kết quả nghiên cứu học hỏi riêng của sự Lá thư sau đây cho thấy có vẻ rằng Ryokan khá quen thuộc với tác phẩm “Đêm Nói Chuyện Trên Thuyền” của Hakuin: 

Mùa đông này, ta áp dụng lời dạy của nhà hiền triết 

Lão Giáo Hakuyu và đã học điều này: 

Ta tránh đuổi theo cái này và cái kia, 

Và ngậm kín miệng, im lặng nghiêm ngặt. 

Ta chỉ ăn khi bụng đói 

Và gõ nghiến răng sau khi tỉnh từ một giấc mơ. 

Ta đang đọc truyện về Hakuju 

Và học về cách giữ sức khỏe tốt 

Bằng cách giữ cho Khí quân bình. 

Và không bị gây rối bởi những chuyện hư xấu, bất lương. 

Ryokan đã trao đổi bí quyết công thức thuốc dược thảo với các bạn học giả, và cũng yêu cầu họ gửi cho sư giấy, cọ, và mực dư của họ. 

Một lần Ryokan gửi một vị sư bạn lời chúc Năm Mới này: 

“Chúc Mừng Năm Mới!” 

Ngày mai, mùa xuân tới: 

Không cần tới ai giúp! 

Tim ta đập 

Nhanh hơn và nhanh hơn 

Và ta không thể ngủ: 

Xuân tới ngày mai. 

Sau trận động đất kinh hoàng năm 1831, khi đó 10,000 nhà bị phá hủy và 1,200 người chết, Ryokan gửi lá thư kể lại cho một người lo lắng: 

Động đất thật kinh hoàng. Cái lều nhỏ của tôi bình yên. May mắn là không ai chết trong số gia đình và các bạn của bạn. Khi các thiên tai như thế xảy ra, chúng ta đừng tuyệt vọng; khi sự chết chạm trán chúng ta, chúng ta phải gặp nó trực diện. Ngay cả khi chết và tai họa có một chỗ trong bản chất của các pháp. Vẫn còn… 

Mặt đối mặt 

Với sự chết, 

Nhưng vẫn sống đê? 

Thấy thế giới đau khô? 

Như dường quá buồn để chịu đựng. 

Ryokan gửi nhiều lá thư tới người em bướng bỉnh của sư, Yoshiyuki: 

Cậu ra sao 

Mấy hôm rày, hả em nhỏ của ta? 

Tuyết đang tan 

Nhưng gió vẫn 

Thổi quá lạnh. 

Các lá thư khác cảm ơn Yoshiyuki về các món quà, đặc biệt một mảnh da thuộc mà nhà sư cần kiệm Ryokan dùng làm áo khoác, làm tấm trải giường và làm thảm cho phòng. Ryokan cũng dịu dàng xin người em đừng hoang phí đời cho rượu và đàn bà, nhắc nhở em trong một lá thư rằng “biết đủ là tài sản chân thật.” 

Một hôm, một người đưa tin tới lều của Ryokan với một lá thư cần đáp ứng tức khắc. Lúc đó, Ryokan đang mê mải tìm cách xoay chiếc bình bát trên một đầu cây gậy, một màn mà sư từng thấy biểu diễn bởi các nghệ sĩ đường phố. Ryokan nguệch ngoạc viết liền thư đáp, nhưng rồi người đưa thư đã trở lại sớm. 

“Oâng chủ nổi sùng với con. Ông không hiểu nổi thư đáp của thầy, và nghĩ là con đã hiểu nhầm lời dạy của thầy.” 

Khi Ryokan ngó lại thư mình viết mới thấy chữ sư viết, “Cái bát phải xoay và xoaỵ” 

Ryokan xin lỗi người đưa thư, “Ồ, thầy xin lỗi. Lần này thầy sẽ cho con câu trả lời đúng!” 

Bởi vì Ryokan ưa quên, nên sư tự viết cho mình các tờ ghi nhớ và danh sách các việc sư cần nhớ: 

Nhớ là đừng: 

nói quá nhiều; 

nói quá mau; 

nói lúc không ai hỏi; 

nói với một cách vô cớ; 

nói với hai tay; 

nói về chuyện đời; 

nói trả thô bạo; 

cãi nhau; 

mỉm cười coi thường lời kẻ khác; 

dùng thành ngữ Trung Hoa lịch thiệp; 

khoe khoang; 

tránh nói trực tiếp; 

nói với kiểu ẩn ý; 

nhảy từ chuyện này sang chuyện kia; 

dùng các chữ cầu kỳ; 

nói về các chuyện cũ không thể đổi nữa; 

nói trịnh trọng; 

tránh câu hỏi trực tiếp; 

nói xấu người khác; 

nói huênh hoang về giác ngộ; 

say rượu phá phách; 

nói kiểu hiểm độc; 

la hét trẻ con; 

bịa chuyện hoang đường; 

nói khi giận dữ; 

nói tên người [thế lực để dọa người đối thoại]; 

làm lơ người đối thoại; 

nói giả mộ đạo về Phật, về Trời; 

dùng lời đường mật; 

dùng lời nịnh bợ; 

nói về chuyện mình không biết; 

nói độc quyền; 

nói sau lưng người khác; 

nói kiêu căng; 

nói xấu kẻ khác; 

tụng kinh kiểu phô trương; 

than phiền về phẩm vật cúng dường; 

thuyết pháp dài dòng lê thê; 

nói kiểu giả tạo như nghệ sĩ; 

nói kiểu giả tạo như một thầy trà đạo. 

Phải dâng hương hoa cúng Phật; 

Trồng cây và hoa, rửa và tưới vườn; 

Thường đốt ngải cứu hai chân; 

Tránh ăn cá có dầu; 

Phải ăn nhẹ, tránh thức ăn dầu mỡ; 

Đừng ngủ quá giấc; 

Đừng ăn quá no; 

Đừng ngủ trưa lâu; 

Đừng làm mệt quá sức; 

Đừng vô ý; 

Đừng nói khi không có gì để nói; 

Đừng giấu gì trong lòng; 

Luôn luôn uống rượu sake ấm; 

Cạo đầu; 

Cắt móng tay; 

Súc miệng và xài tăng; 

Phải tắm; 

Giữ cho giọng rõ ràng. 

Kinh Dịch viết: 

Hạnh phúc là sự hòa hợp thích nghi của: 

nóng—lạnh 

tốt—xấu 

đen—trắng 

đẹp—xấu 

lớn—nho? 

trí—ngu 

dài—ngắn 

sáng—tối 

cao—thấp 

phần nhỏ—toàn thê? 

thư thả—mau ***ng 

tăng—giảm 

sạch—dơ 

chậm—mau. 

Ryokan luôn luôn để các thứ lại phía sau. Nhiều lá thư gửi bạn hữu vẫn còn tồn tại, đầy các bản tóm lược các bài viết mà sư để lạc và hỏi họ xem họ có thấy các thứ để quên nào đó ở đâu không. Đôi khi sư tới khất thực cùng một nhà tới hai lần trong cùng ngày, vì quên là trước đó có tới rồi, và bị bà chủ nhà ra la mắng là sao sư tham thế. Đây là một danh sách khác mà sư viết: 

(#1) Các thứ nhớ mang theo 

Mũ bông, khăn tắm, giấy thấm, giấy, quạt, các đồng tiền, banh, bi. 

(#2) Các thứ cần thiết 

Mũ tre, vải bó chân, găng tay, day lưng, gậy, áo lễ ngắn. 

(#3) Cho các chuyến du phương 

Aùo quần, áo mưa rơm, bát, túi xách. 

Nhớ đọc bảng này trước khi rời nhà, nếu không thì sẽ rắc rối! 

Khi sư vào lứa tuổi sáu mươi, Ryokan khó đi xa hơn, nên vào năm 1816, sư dọn tới một nơi cư trú mới kế bên Đền Otogo, nơi chân núi Kugamị Khi sư rời Gogo-an, Ryokan làm bài thơ này: 

Nơi sườn núi của 

Kugami, 

Trong bóng mát của núi 

Bao nhiêu năm 

Ta về ở lều này? 

Giờ là lúc 

Để nó lại trống trơn— 

Ký ức ta sẽ mờ nhạt 

Như cỏ mùa hè. 

Lui và tới 

Ta bước vòng quanh lều 

Và rồi bước ra đi 

Tới khi căn lều biến mất 

Giữa rừng cây. 

Khi ta bước, ta vẫn 

Nhìn về sau, mỗi lần quẹo, 

Nhìn về sau nơi đó. 

Cuộc sống của Rykan tại Đền Otogo nhiều phần hệt như hồi ở am Gogo-an, sáng hòa lẫn với tối: 

Tại Rừng Otogo, dưới Núi Kugami 

Ngươi sẽ thấy chiếc lều nhỏ, nơi ta qua những ngày. 

Vẫn không có chùa hay dinh thự cho ta! 

Ta vẫn ưa sống với gió mát và trăng sáng, 

Chơi vớí trẻ làng hay làm thơ. 

Nếu bạn hỏi về tôi, bạn có lẽ sẽ nói, 

“Ông sư ngốc đó làm gì bây giờ?” 

Một ông già yếu đuối, sáu mươi tuổi 

Sống kế bên ngôi đền, cách biệt làng. 

Nửa đêm—mưa dữ dội tuôn vào đá; 

Dưới cửa sổ, ánh sáng đơn lẻ chập chờn. 

Khi nhỏ, ta học cổ thư Trung Hoa nhưng không hiểu hết; 

Tới thanh niên, ta tu Thiền nhưng không truyền được. 

Giờ sống bên ngôi đền, 

Nửa là thầy cúng Thần Đạo, nửa là sư Phật Giáo. 

Ryokan cuối cùng cũng bị buộc rời nơi cư trú ở Đền Otogo: 

Trong túp lều ba phòng xiêu vẹo 

Ta già lão và mệt mỏi; 

Cơn lạnh mùa đông này là 

Tệ hại nhất ta từng chịu qua. 

Ta húp cháo loãng trong khi chờ 

Đêm lạnh cóng qua đi. 

Ta có thể sống còn tới khi mùa xuân tới? 

Không thể đi xin cơm về, 

Làm sao ta sống qua cơn lạnh? 

Ngay cả thiền cũng không giúp nữa được; 

Không còn gì nữa để làm, trừ làm thơ 

Để tưởng nhớ các bạn đã từ trần. 

Năm 1826, khi sư được 68 tuổi, Ryokan rời Đền Otogo và tới sống với gia đình Kimura tại Làng Shimazakị Sư được cúng một căn nhà nhỏ nơi phía sau, nhưng nó không thực sự thích nghi với sự Sư tự so sánh mình với những con chim ***g mà gia đình Kimura nuôi: 

Bây giờ và hồi đó 

Ngươi [chim] hẳn thèm khát 

Tự do của rừng sâu— 

Ta cũng trân quý 

Các suy nghĩ như thế. 

Ryokan viếng thăm am Gogo-an lần cuối: 

Ta chống gậy và chậm rãi đi 

Tới căn lều nơi ta đã ở nhiều năm. 

Các bức tường đã sụp đổ, và bây giờ cho cáo và thỏ. 

Giếng bên rừng tre đã khô, 

Và màng nhện dày phủ cửa sổ, nơi ta từng đọc dưới trăng. 

Các bậc thềm đầy cỏ dại, 

Và một con dế cô đơn gáy trong cơn lạnh buốt. 

Ta bước quanh thất thường, không thể chạy vụt đi 

Như mặt trời lặn buồn bã. 

Trong một không khí hạnh phúc hơn, chính lúc sư đang ngụ tại nhà Kimura thì nhà sư 70 tuổi Ryokan gặp và yêu thương ni cô trẻ đẹp Teishin (1798—1872). Mặc dù đó hiển nhiên là một quan hệ trong sáng và cao thượng, nhưng ràng buộc yêu thương giữa họ cũng sâu như giữa Ikkyu và Phu Nhân Morị Sau khi Teishin lần đầu gặp Ryokan, ni cô viết bài thơ này: 

Có phải đó thực sự là thầy 

Con đã thấy, 

Hay đây là niềm vui 

Con vẫn còn cảm thấy 

Chỉ là một giấc mơ? 

Trả lời của Ryokan là: 

Trong thế giới mộng huyễn này 

Chúng ta ngủ chập chờn 

Và nói về các giấc mơ— 

Hãy mơ, mơ nữa đi, 

Nhiều bao nhiêu mà ni muốn. 

Cũng có trao đổi như sau: 

Nơi đây với thầy 

Con có thể giữ 

Im lặng như trăng sáng 

Trong vô lượng ngày và năm, 

Chúng ta nhìn nhau. 

(Teishin) 

Nếu tim ni 

Giữ không đổi, 

Chúng ta sẽ buộc chặt vào nhau 

Như dây leo vô tận 

Trong thời gian vô lượng. 

(Ryokan) 

Khi Teishin không đến thăm Ryokan được, sư gửi ni cô bài thơ than thở sau: 

Ni đã quên ta 

Hay lạc đường tới đây? 

Bây giờ ta chờ ni 

Suốt ngày, mỗi ngày. 

Nhưng ni không tới. 

Teishin viết đáp, than phiền là bận chuyện trần gian không tới được: 

Mặt trăng, con biết chắc, 

Đang chiếu sáng 

Cao trên các rặng núi, 

Nhưng các đám mây buồn 

Phủ các đỉnh trong bóng đen. 

Ryokan gửi lại lời khuyên: 

Ni phải trổi cao vượt 

Các đám mây ảm đạm 

Đang phủ đỉnh núi. 

Nếu không, làm sao ni sẽ 

Thấy được ánh sáng? 

Vì tuyết rơi suốt mùa đông, Teishin không thể thăm Ryokan cho tới khi xuân làm ấm lại. Khi sư gặp ni cô, Ryokan thốt lên: 

Trong tất cả đất trời, 

Không có gì 

Qúy giá hơn 

Việc ni tới thăm 

Vào ngày đầu mùa xuân. 

Bởi vì áo tràng đen của sư và vẻ mặt rám nắng, Ryokan được gọi thân mật là “Con Quạ” bởi Teishin và các bạn của họ. (Ở vùng Viễn Đông, con quạ là biểu tượng của tình yêu vĩnh cửu.) Rất mực hài lòng, Ryokan viết bài thơ này: 

Tự do như một con chim 

Để đi bất cứ đâu ta muốn, 

Từ ngày mai 

Ta sẽ lấy tên “Con Quạ” 

Được trao cho ta bởi các bạn. 

Teishin lập tức đáp: 

Khi chàng quạ núi 

Bay về nhà chàng, 

Chàng sẽ không mang theo 

Chim nhỏ cánh mềm 

Yêu thương của chàng? 

Ryokan trả lời với một nụ cười: 

Ta muốn mang 

Ni đi bất kỳ đâu 

Mà ta đi, 

Nhưng thiên hạ sẽ không nghi chúng ta 

Là cặp tình nhân? 

Cho tới hết đời Ryokan, họ thường gần nhau, làm thơ, bàn chuyện văn học và tôn giáo, và đi bộ xuyên qua các cánh đồng và các ngôi làng kế cận. 

Ngâm những bài thơ cũ, 

Làm những bài thơ mới, 

Chơi temari 

Cùng nhau trên cánh đồng— 

Hai người, một trái tim. 

Gió mát, 

Trăng sáng— 

Cùng nhau 

Hãy nhảy múa tới bình minh 

Như lời từ giã cho tuổi già của ta. 

Vào mùa đông năm 1830, sức khỏe của Ryokan hoàn toàn hỏng. Bị chứng tiêu chảy kinh hoàng, Ryokan dùng thơ để than phiền: 

Đó là một 

Tình trạng dễ dàng 

Để nói tới, 

Nhưng các khúc ruột quặn thắt 

Đang giết ta! 

Thể chất sư suy yếu mau ***ng, và khi Teishin chạy tới bên giường hấp hối của sư, Ryokan nói về tình yêu sư giành cho ni cô: 

“Khi nào, khi nào?” Ta thở dài. 

Người ta mong chờ 

Cuối cùng đã tới; 

Với ni bây giờ, 

Ta có tất cả những gì ta cần. 

Ni cô trả lời: 

Chúng ta tu sĩ được học 

Phải vượt qua cõi 

Của sinh và tử— 

Nhưng con không thể chịu được 

Nỗi buồn chia xa thầy. 

Ryokan trả lời một cách lặng lẽ: 

Bất cứ nơi đâu ni nhìn 

Lá đo? 

Tan tác— 

Từng chiếc lá, 

Tới trước và lui. 

Ryokan viên tịch sáng sớm ngày 6 tháng giêng, năm 1831. Tang lễ của sư, được làm lễ bởi các vị sư thuộc đủ mọi tông phái nhà Phật, được tham dự bởi mọi người trong làng và các làng kế bên. 

Cái gì sẽ vẫn là di sản của ta? 

Hoa mùa xuân, 

Chim cu mùa hè, 

Và lá đo? 

Của mùa thu.

Lời Người Dịch

Tới đây là xong phần cuộc đời ba vị Thiền Sư lớn của Nhật Bản. Điều chúng ta ngạc nhiên là việc các sư có khi xem nhẹ giới luật. Rượu, và có khi cả nữ sắc… Trong khi giới lại là chìa khóa của tam học giới định huệ. Chỉ trừ một ít trường hợp người tu nhờ cực định mà đắc giới (định cộng giới), hoặc nhờ cực huệ mà đắc giới (đạo cộng giới), còn thì giới luôn luôn là bước đầu để học, để làm theo ba nghiệp của Phật. Ba vị Thiền sư nơi đây như dường nhấn mạnh tới ngộ trước. Chỗ này chỉ có thể giải thích rằng, nếu người tu mà giữ được giới, nhưng lại mang tà kiến, hiểu nhầm Phật pháp, thì kiếp sau vẫn có khi đi lạc, chưa chắc gặp lại Phật pháp… có phải đó là lý do cần phải có chánh kiến trước? Và vì sao đa số các Thiền sư lại nhấn mạnh là cần ngộ đạo trước? 

Trì giới vẫn là cửa lớn của giải thoát. Đại Trí Độ Luận (tập I, bản dịch của Hòa Thượng Thiện Siêu) viết, “Trì giới là cửa ngõ sơ khởi của tám chánh đạo, cửa ngõ sơ khởi để vào đạo, chắc chắn đi đến Niết Bàn… Bồ Tát trì giới, thà tự mất thân, không hủy phá giới nhỏ, ấy là Thi La Ba La Mật… ” Thêm nữa, trì giới còn có công năng giải nghiệp. Phần lớn chúng ta nghiệp xưa quá sâu dày, nên đọc vài trang kinh đã thấy buồn ngủ, ngồi thiền vài phút đã thấy loạn tâm, nên xem chuyện cổ nhân mà tưởng mình không bao giờ có thể làm thế nổi. Đây cũng là lý do để người tu lại cần kiên tâm giữ giới cho nghiêm, không để rơi chìa khóa của tam học. Tuy nhiên, nếu lỡ phạm giới, hay thấy mình nghiệp nặng thì cũng đừng sợ là hết chữa. Vì Phật đã nhiều lần dạy pháp sám hối trong nhiều kinh khác nhau. Đặc biệt, một lần Phật dạy rằng với tín tâm cực mạnh vào Phật-Pháp-Tăng, thì tâm người tu như tấm vải cấu uế khi rửa trong dòng sông sạch thì cũng được thanh tịnh sạch sẽ (Kinh Ví Dụ Tấm Vải, từ Trung Bộ Kinh, do HT Minh Châu dịch). Đây là chỗ để thấy rằng tội vốn thật là vô tự tánh, vì nếu tội có định tánh thì không thể sám hối nổi để mà tu hành. 

Các vị Tổ ngày xưa khuyến tấn tu hành thường nói là không chịu tu thì “coi chừng thác vào thai trâu bụng ngựa.” Thời nay, chúng ta chỉ cần nghĩ tới chuyện kiếp sau đầu thai vào bụng một phụ nữ Phi Châu hay Ả Rập là sợ rồi. Cơ duyên với Phật pháp đã có rồi, thì đừng để buông mất. Chúng ta đang thời mạt pháp, nên hầu hết đều nghiệp nặng, mà hoàn cảnh tu lại đầy gian nan, lực của cõi dục buộc chân người chặt hơn. Cứ bật máy truyền hình là thấy đủ thứ lôi kéo của cõi dục. Trong ba cõi, chỉ trừ nội viện cung trời Đâu Suất của Ngài Di Lặc, còn thì cõi nào cũng đáng sợ hết. Như khi xem bản tin Israel-Palestine mà lòng mình bênh phe này, hận phe kia, thì kiếp sau có thể sẽ rớt vào giữa cuộc tranh chấp đó liền, đâu có biết rằng các chúng sanh đó đều là cha mẹ nhiều đời của mình, và các lẽ phải trái đúng sai của đời hoàn toàn không liên can gì tới đạo cả, mà cũng chỉ là lực của cõi Dục thôi, biến hiện sinh diệt như mây trên trời, như sóng mặt nước. Đã là mây nổi, là sóng trào thì làm gì có phải trái đúng sai… mà mình cứ khởi tâm phân biệt hoài. Hay như khi xem một quảng cáo TV, đột nhiên mong muốn có xe đẹp, nhà to… thì đây cũng là niệm buộc mình chặt hơn vào cõi dục. Mà thử nghĩ xem, 24 giờ trong ngày, có gì mà không lôi buộc mình vào cõi dục? Mình buông thả phạm giới thì sẽ hỏng, mà khi chống cự mà chống sai thì cũng hỏng. 

Thí dụ, như hốt nhiên khởi niệm, phải chi mình trúng số để xây vài ngôi chùa ở Sài Gòn. Tâm này là tâm cõi dục, dù là tâm thiện. Nếu không đủ phước lực cho kiếp này trúng số, thì sau kiếp này, chúng ta có thể sẽ đầu thai vào nhà một ông triệu phú ở Chợ Lớn (cũng một hình thức trúng số) và rồi khởi tín tâm đi xây chùa, nhưng mặt khác lại có thể sẽ đi lạc trong các cơ hội kinh doanh làm ăn giữa cõi dục. Nhưng ngay khi khởi niệm xây chùa, một hành vi hộ trì chánh pháp, mà mình cứ đè nén tâm này xuống, thì lại mất thiện căn, kiếp sau khó gặp lại pháp Phật. Mới biết, hễ có với không, hễ thiện với ác đều là sai lệch. 

Hay thí dụ khác, như khi xem phim bộ Hồng Kông, chúng ta thấy cô tài tử xinh đẹp, bèn mê liền. Kiếp sau, nếu không có nhân duyên nào khác can thiệp (mà phải mạnh hơn), thì ta có thể đầu thai vào bụng một phụ nữ ở Hồng Kông, hay Đài Loan, nơi thế lực, ảnh hưởng và quyến thuộc của cô tài tử này đang bao trùm. Nhưng nếu khởi tâm xua đuổi hình ảnh cô này ra khỏi tâm mình, xem đó như là đối thủ thì lại buộc tâm mình theo chiều nghịch lại. Kiếp sau, có thể sinh vào một gia đình Nho Giáo cổ hủ Hồng Kông, thù nghịch các loại phim lãng mạn. 

Có một công án nổi tiếng trong Thiền Tông, chuyện một bà lão bảo cô con gái thử một vị sư bằng cách ôm chặt thầy này. Trong đời thường hiện nay, chúng ta thế nào cũng sẽ gặp những hoàn cảnh tương tự như thế. Thí dụ, khi mở TV xem, tình cờ thấy cảnh trai gái gợi dục, thì đối trị ra sao? Buông lung theo cảnh này, thì sẽ rớt sâu thêm vào cõi dục. Còn đàn áp tâm này, mà không đúng pháp thì chỉ như lấy đá đè cỏ, cũng sẽ bị buộc vào cõi dục theo chiều nghịch. Khi vị sư trong công án nói rằng tâm sư như “cây khô, tro lạnh,” thì bà lão chê là sư tu hỏng rồi, không phải là tâm giải thoát, vì cỏ nào có chết đâu, nó vẫn buộc mình chứ. Diệt niệm như thế là lạc đường rồi. Lấy thí dụ, thay vì vị sư đó, mà lại là một em bé 4 tuổi, khi xem TV hay khi được cô gái trong công án ôm thì em bé đâu có khởi niệm phân biệt kiểu thế đâu, mà bé chỉ khởi niệm theo kiểu một em bé; dù bé không sai trái, nhưng cũng chưa là niệm giải thoát. Và hiển nhiên, ở một chiều nghịch lại, ai cũng biết, hễ mà phóng dật thì là hoàn toàn đi lạc. Nghĩa là: giữa sông sinh tử, đứng lại thì chìm liền, mà bước tới thì bị cuốn trôi. 

Chỗ này, chính Phật đã dùng ngôn phong Bát Nhã để dạy: “Không đứng lại, không bước tới, ta vượt qua bộc lưu.” Bộc lưu là dòng sông sinh tử, dòng tham ái. Trong Tương Ưng Bộ Kinh tập I, chương I, bản dịch của HT Minh Châu, phẩm Cây Lau, ghi như sau: 

[Bắt đầu trích kinh] 

Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Độc). 

Rồi một vị Thiên, khi đêm đã gần tàn, với nhan sắc thù thắng ***i sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, vị Thiên ấy bạch Thế Tôn: 

— Thưa Tôn giả, làm sao Ngài vượt khỏi bộc lưu? 

— Này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu. 

— Thưa Tôn giả, làm sao không đứng lại, không bước tới, Ngài vượt khỏi bộc lưu? 

— Này Hiền giả, khi Ta đứng lại, thời Ta chìm xuống. Này Hiền giả, khi Ta bước tới, thời Ta trôi giạt; do vậy, này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu. 

(Vị Thiên): 

Từ lâu, tôi mới thấy 

Bà-la-môn tịch tịnh. 

Không đứng, không bước tới, 

Vượt chấp trước ở đời. 

Vị Thiên ấy nói như vậy và bậc Đạo Sư chấp nhận. Vị Thiên ấy biết được: “Thế Tôn đã chấp nhận ta”. Vị ấy đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, rồi biến mất tại chỗ. 

[Hết trích Kinh] 

Trong mọi trường hợp, điều tốt nhất cho người tu vẫn là tinh cần sám hối, kiên tâm tu giới định huệ, khởi Bồ Đề Tâm, phát đại nguyện, tu vô lượng pháp, làm vô lượng công đức… để sẽ không bao giờ đi chệch đường nữa. Cũng nên ghi nhận, sư Hakuin có nhấn mạnh về yếu tố giữ gìn sức khỏe. Đây là một điều cực kỳ quan trọng trên đường tu, mà ai cũng có thể nghiệm thấy dễ dàng. Khi cơ thể bệnh, đau đớn, thì tâm khó định, dễ loạn tâm. Không cần nói tới bệnh nan y, chỉ cần nói tới nhức răng, đau mắt cũng thấy phiền não rồi. Thêm nữa, chúng ta cũng có thể nghiệm theo chiều nghịch. Mỗi khi có chuyện thật buồn trong đời, tâm mình loạn động mà không biết làm sao đối trị, thì cứ ra công viên chạy vài vòng, hay ra hồ mà bơi chừng một giờ… thì tự nhiên lòng dịu xuống. Nhưng không ai nghĩ rằng chạy hay bơi mà giải thoát được sinh tử, chỉ là tạm thôi, chỉ là tạo điều kiện cho thân cường tráng để có sức tu tập… Chúng ta cũng có thể thử xem các phản ứng của tâm: thí dụ như để vài ngày ngồi xem TV coi tâm mình có dễ đối trị hay không; sau đó để vài ngày vừa xem TV vừa tập thể dục, như chạy một chỗ, hay chạy tới ba bước và lui ba bước, hay xen lẫn vừa chạy vưa nhảy xổm mà mắt vẫn dán vào TV… Ta có thể thấy tâm mình biến hiện ra sao trong các điều kiện của thân. Thì sẽ biết là tâm mình sẽ khó hay dễ điều thuận theo thân mình và môi trường chung quanh thế nào. Nên ăn ít để thiểu dục. Nếu thấy phức tạp, thì nên nghe lời Phật dạy là cần tìm nơi lan nhã, u tịch. Hay đem TV bố thí cho người khác luôn.)

Nguồn: 

BA THIỀN SƯ 
(Ikkyu Sojun, Hakuin Ekaku, Ryokan Taigu)
Tác giả: John Stevens
Dịch giả: Cư Sĩ Nguyên Giác 

Bản điện tử: truongton.net